08:56 | 14/03/2019

Agribank cùng ngành Ngân hàng đẩy lùi tín dụng đen

Tín dụng đen đang là vấn đề được dư luận hết sức quan tâm và lo ngại bởi đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của một bộ phận người dân...

Hợp sức tuyên chiến với tín dụng đen
Quyết liệt đẩy lùi tín dụng đen

Bộ Công an, ngành Ngân hàng cùng các cấp, các ngành đang có những giải pháp tích cực để hạn chế tín dụng đen. Ngành Ngân hàng đã chủ động triển khai nhiều giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống cho người dân, doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa nơi dễ bị ảnh hưởng bởi vấn nạn này. 

Agribank đã cải tiến quy trình, thủ tục cho vay, rút ngắn thời gian xét duyệt cho vay

Phó Tổng giám đốc Agribank Phạm Toàn Vượng cho biết, trong hơn 30 năm hình thành và phát triển, Agribank luôn khẳng định vai trò chủ lực trong việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân.

Đến nay, tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của hệ thống Agribank đạt trên 1 triệu tỷ đồng, dư nợ hộ sản xuất và cá nhân đạt trên 700 nghìn tỷ đồng với gần 4 triệu khách hàng; tỷ trọng cho vay nông nghiệp-nông thôn trên 70% và chiếm 50% tỷ trọng toàn ngành Ngân hàng đầu tư vào lĩnh vực này, trong đó tập trung cho các ngành sản xuất, kinh doanh là 78%.

Trên địa bàn 5 tỉnh Tây Nguyên, Agribank đã triển khai mạng lưới giao dịch sâu rộng đến các địa bàn vùng sâu, vùng xa với 137 chi nhánh và phòng giao dịch. Dư nợ cho vay đạt gần 86 nghìn tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay các ngành sản xuất, kinh doanh chiếm 83%.

So với các khu vực khác, Tây Nguyên là khu vực có nguồn vốn huy động thấp, chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu vay vốn của khách hàng, thế nên hàng năm, Agribank đều thực hiện điều chuyển nguồn gần 50.000 tỷ đồng từ những nơi khác về khu vực Tây Nguyên nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn của người dân.

Ngoài việc thực hiện kinh doanh như các NHTM khác, Agribank còn thực hiện 7 chương trình tín dụng chính sách, hai chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Hàng năm Agribank chấp nhận giảm thu hàng nghìn tỷ đồng để hỗ trợ giảm lãi suất cho các đối tượng khách hàng, đặc biệt là các khách hàng thuộc những chương trình chính sách.

Bên cạnh đó, Agribank đã cải tiến quy trình, thủ tục cho vay, rút ngắn thời gian xét duyệt cho vay, đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng và dịch vụ ngân hàng phù hợp với từng đối tượng khách hàng. Ngân hàng đã triển khai mạnh mẽ hình thức cho vay qua tổ, nhóm để nguồn vốn ngân hàng đến được với đông đảo người dân. Agribank đã ký kết Thỏa thuận hợp tác với các tổ chức hội, chính quyền địa phương nhằm hướng dẫn cho vay, giải ngân, thu nợ và chia sẻ kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp.

Đến nay, dư nợ cho vay qua tổ đạt trên 115 ngàn tỷ đồng với hơn 1,4 triệu tổ viên. Agribank cũng đồng thời tăng khả năng tiếp cận vốn của khách hàng bằng việc triển khai ngân hàng lưu động, mang đồng vốn đến người dân vùng sâu, vùng xa. Đến nay, Agribank đã có 68 xe tại 65 chi nhánh trên địa bàn 59 tỉnh thành phố, phục vụ gần 400 nghìn lượt khách hàng và trong thời gian tới, dịch vụ ngân hàng lưu động sẽ tiếp tục được Agribank mở rộng thêm ở nhiều địa phương khác trên cả nước…

Không chỉ đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất kinh doanh trên địa bàn nông thôn, Agribank còn đáp ứng nhu cầu vay vốn phục vụ tiêu dùng, đời sống. Đến nay, dư nợ cho vay tiêu dùng toàn hệ thống Agribank đạt gần 220 nghìn tỷ đồng với trên 1 triệu khách hàng, chiếm tỷ trọng 22% dư nợ cho vay.

Trong đó, riêng dư nợ cho vay tiêu dùng khu vực Tây Nguyên đạt gần 15.000 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 21% dư nợ cho vay. Thực hiện chỉ đạo của NHNN về triển khai chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và các giải pháp góp phần hạn chế tín dụng đen, Agribank đã đưa ra chương trình tín dụng tiêu dùng đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình, với nhiều ưu đãi.

Tuy mới triển khai được hơn 1 tháng, nhưng đến nay, Agribank đã thực hiện cho vay tại 43 tỉnh, thành phố với gần 6.000 lượt khách hàng vay vốn tiêu dùng, đời sống (số tiền vay không quá 30 triệu đồng), doanh số cho vay đạt gần 130 tỷ đồng. Trong đó tại khu vực Tây Nguyên Agribank đã cho vay gần 700 lượt khách hàng với doanh số cho vay hơn 10 tỷ đồng.

Đối với lĩnh vực này, Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng nhấn mạnh: Ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục đẩy mạnh tín dụng phục vụ sản xuất và tiêu dùng của người dân, góp phần cùng Bộ Công an và các bộ, ngành, địa phương liên quan đấu tranh đẩy lùi tín dụng đen thông qua các giải pháp cụ thể như: Hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng của các NHTM; Nghiên cứu, đề xuất Chính phủ ban hành chính sách mới về tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo theo hướng mở rộng đối tượng cho vay, hạn chế các hộ dân tìm đến nguồn tín dụng đen…

Để đáp ứng đầy đủ nhu cầu vay vốn của khách hàng trong thời gian tới, ông Phạm Toàn Vượng cho biết, Agribank tiếp tục thực hiện một số giải pháp. Một là, triển khai đồng bộ các chính sách theo đúng định hướng của Chính phủ, NHNN đảm bảo chất lượng và hiệu quả. Nghiêm túc chỉ đạo đầu tư tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, tiêu dùng.

Hai là, tiếp tục phối với chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị xã hội nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền để mọi người dân có thể tiếp cận nhanh nhất các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, trong đó có chương trình tín dụng tiêu dùng đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn cấp bách của khách hàng.

Ba là, cải tiến quy trình, thủ tục cho vay, rút ngắn thời gian xét duyệt cho vay; Đa dạng hoá các loại sản phẩm tín dụng, dịch vụ ngân hàng phù hợp với từng đối tượng khách hàng như: cho vay qua tổ vay vốn thông qua các tổ chức hội, cho vay hạn mức tín dụng quy mô nhỏ đối với hộ gia đình sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ; Áp dụng công nghệ để nâng cao chất lượng và đem lại nhiều tiện ích tới khách hàng.

Bốn là, Agribank tiếp tục mở rộng việc triển khai Điểm giao dịch lưu động bằng ô tô chuyên dùng trong thời gian tới với mục tiêu mở rộng tín dụng và cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các khách hàng ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Lãnh đạo ngân hàng này khẳng định: Agribank cùng ngành Ngân hàng đã và đang vào cuộc mạnh mẽ để góp phần ngăn chặn và đẩy lùi nạn tín dụng đen. Tuy nhiên, theo ông Vượng, để đạt được kết quả cao nhất, cần có sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội. NHNN cũng kỳ vọng rằng với những giải pháp mở rộng tín dụng của ngành Ngân hàng và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị sẽ giúp người dân hiểu, nhận diện và dần bài trừ nạn tín dụng đen.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.330 23.450 25.912 26.717 29.401 29.872 204,59 212,65
BIDV 23.330 23.450 25.885 26.632 29.407 29.903 208,86 214,15
VietinBank 23.312 23.442 25.842 26.577 29.246 29.886 209,24 215,74
Agribank 23.345 23.440 25.885 26.281 29.418 29.901 209,17 212,95
Eximbank 23.320 23.430 25.885 26.242 29.476 29.882 209,87 212,76
ACB 23.330 23.430 25.871 26.226 29.469 29.799 210,07 212,96
Sacombank 23.289 23.442 25.911 26.367 29.544 29.950 208,95 213,54
Techcombank 23.310 23.450 25.649 26.510 29.170 30.050 208,37 215,56
LienVietPostBank 23.320 23.460 25.845 26.323 29.534 29.969 209,56 213,48
DongA Bank 23.340 23.430 25.930 26.230 29.510 29.880 206,50 212,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.160
36.350
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.160
36.330
Vàng SJC 5c
36.160
36.350
Vàng nhẫn 9999
36.190
36.590
Vàng nữ trang 9999
35.730
36.330