22:44 | 16/01/2019

Agribank hoàn thành toàn diện kế hoạch năm 2018

Ngày 16/1/2019, tại Hà Nội, Agribank đã tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ kinh doanh năm 2019. Thống đốc NHNN Việt Nam Lê Minh Hưng đến dự và phát biểu chỉ đạo.

Báo cáo kết quả hoạt động năm 2018, Tổng giám đốc Agribank Tiết Văn Thành cho biết Ngân hàng đã hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch được giao: Lợi nhuận trước thuế năm 2018 đạt 7.525 tỷ đồng, bứt phá so với kế hoạch đề ra 5.700 tỷ đồng; Tổng tài sản đạt gần 1.300.000 tỷ đồng; Nguồn vốn đạt gần 1.200.000 tỷ đồng, tăng trưởng 18%; Quy mô tín dụng và đầu tư đạt trên 1.200.000 tỷ đồng, tăng 14,6% so với năm trước, trong đó tín dụng đầu tư cho tam nông chiếm 70,5% tổng dư nợ của Agribank.

Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị

Nhiều giải pháp cung ứng vốn cho nền kinh tế

Với vai trò là một định chế tài chính lớn của Nhà nước, Agribank đã thực hiện hiệu quả một số giải pháp, đặc biệt là hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng, tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng cho khu vực nông thôn…

Mặc dù phải cạnh tranh huy động vốn trên thị trường nhưng để tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ khách hàng, bằng nguồn lực tài chính của mình, ngay từ đầu năm 2018 Agribank đã tiên phong chủ động giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với 5 lĩnh vực ưu tiên và các chương trình tín dụng của Nhà nước.

Ngoài việc giảm lãi suất cho vay, Agribank còn triển khai 5 gói tín dụng ưu đãi cho khách hàng với lãi suất cho vay thấp hơn từ 1-1,5%/năm so với lãi suất cho vay thông thường.

Đảm nhận nhiệm vụ cung ứng vốn thường xuyên cho khu vực tam nông, Agribank triển khai hiệu quả 7 chương trình tín dụng chính sách và 2 chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Riêng cho vay xây dựng nông thôn mới, Agribank đã triển khai đến 100% số xã trên cả nước.

Với mong muốn tăng khả năng tiếp cận vốn và dịch vụ ngân hàng cho mọi người dân, nhất là vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn, qua đó góp phần đẩy lùi tín dụng đen, phát triển thị trường thanh toán không dùng tiền mặt, trong năm 2018, Agribank triển khai an toàn, hiệu quả Điểm giao dịch lưu động bằng ô tô chuyên dùng.

Kênh cho vay qua tổ vay vốn tiếp tục được Agribank đẩy mạnh với hiệu quả khi kết thúc năm 2018 đã có trên 58.000 tổ vay vốn với tỷ lệ nợ xấu rất thấp.

Ông Tiết Văn Thành cho biết thêm bên cạnh việc nâng cao chất lượng tín dụng, Agribank đã triển khai nhiều biện pháp như theo dõi chỉ đạo sát sao, hỗ trợ xử lý nợ xấu đến từng chi nhánh, chủ động kiểm soát, tăng cường thanh tra, cảnh báo nợ xấu tiềm ẩn rủi ro nhằm ngăn chặn nợ xấu phát sinh; tích cực phối hợp với VAMC, AMC để thu hồi nợ xấu, tích cực thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42…

Đến cuối năm 2018, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của Ngân hàng ở mức 1,51%, giảm 4,29% so với thời điểm bắt đầu tái cơ cấu và Agribank chính thức về đích trước thời hạn 2 năm so với kế hoạch cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020.

Nợ xấu theo Thông tư 02 là 1,51%, thấp hơn so với năm 2017; Thu hồi nợ sau xử lý 11.936 tỷ đồng, đạt 104% mục tiêu do Hội đồng thành viên đề ra; Trích lập dự phòng rủi ro đạt 25.590 tỷ đồng. Tổng nguồn dự phòng xử lý rủi ro còn lại gần 20.000 tỷ đồng giúp Ngân hàng đủ khả năng mua trước hạn toàn bộ nợ đã bán cho VAMC, xử lý kịp thời các khoản nợ xấu phát sinh nếu có trong năm 2019.

Cùng với đó, Agribank đã thực hiện tốt trách nhiệm xã hội thông qua triển khai nhiều hoạt động vì cộng đồng, ưu tiên các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, giáo dục, y tế, đường giao thông nông thôn, hỗ trợ cộng đồng...

Những đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và nền kinh tế đất nước, ghi dấu chặng đường 30 năm xây dựng và phát triển, năm 2018 Agribank vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng các phần thưởng cao quý: Huân chương Lao động hạng Nhất; Cờ thi đua, Bằng khen của Chính phủ.

Agribank là Ngân hàng đứng đầu trong Top 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam 2018; được công nhận là Thương hiệu Quốc gia; Ngân hàng vì Cộng đồng. Năm 2018, Fitch Ratings nâng xếp hạng tín nhiệm Agribank với tương lai phát triển ổn định, góp phần khẳng định uy tín, thương hiệu Agribank trong và ngoài nước.

Chuẩn bị cho cổ phần hóa

Phát biểu tại Hội nghị, Thống đốc NHNN Việt Nam Lê Minh Hưng đánh giá cao kết quả hết sức ấn tượng. Trong thời gian qua, Agribank luôn thể hiện là NHTM Nhà nước đóng vai trò chủ lực trên thị trường tài chính ngân hàng, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn và gương mẫu triển khai mạnh mẽ các chương trình trọng điểm theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ có hiệu quả trong lĩnh vực được giao, xứng đáng với vai trò đầu tàu tiên phong.

Phát biểu trước Thống đốc và toàn thể Hội nghị, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank Trịnh Ngọc Khánh thay mặt toàn hệ thống Agribank cảm ơn những ý kiến đánh giá và phát biểu chỉ đạo của Thống đốc, đồng thời cam kết toàn hệ thống Agribank nỗ lực quyết tâm hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ năm 2019, tiếp tục đưa Agribank phát triển ổn định bền vững, sẵn sàng bước sang giai đoạn phát triển mới.

Với phương châm “đoàn kết, kỷ cương, sáng tạo, hiệu quả”, để tạo dấu mốc chuẩn bị cuộc chuyển giao lịch sử từ ngân hàng 100% vốn Nhà nước sang ngân hàng TMCP, Agribank tiếp tục bám sát mục tiêu, tổ chức thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 01 của Thống đốc NHNN về các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng năm 2019 và triển khai tới 16 nhóm giải pháp về cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020.

Để tạo điều kiện thuận lợi giúp Agribank hoàn thành tốt kế hoạch kinh doanh cũng như thực hiện thành công cổ phần hoá trong thời gian tới, lãnh đạo Agribank một lần nữa đề nghị Chính phủ sớm xem xét cấp bổ sung vốn điều lệ cho Ngân hàng, từ nay đến năm 2020 xin cấp 20.200 tỷ đồng theo phương án đã trình Bộ Tài chính và NHNN.

Agribank kiến nghị Bộ Tài chính sớm phê duyệt phương án sắp xếp lại và xử lý nhà đất theo Nghị định 167/2017/NĐ-CP để triển khai thực hiện quy trình cổ phần hoá, bố trí nguồn vốn ngân sách cấp đủ số tiền hỗ trợ lãi suất của Agribank đã thực hiện hỗ trợ khách hàng theo các chương trình.

Về vấn đề này, Thống đốc cho biết NHNN đã đề nghị với các bộ, ngành trình Chính phủ phương án tăng vốn điều lệ cho Agribank nhưng trong thời gian chưa được Chính phủ phê duyệt thì Ngân hàng phải chủ động để cơ cấu lại danh mục tài sản có rủi ro, đảm bảo tuân thủ tỷ lệ, giới hạn an toàn, đáp ứng chuẩn mực theo quy định của NHNN theo Thông tư 41 đồng thời có kế hoạch tăng vốn tự có cấp 2.

Trong việc triển khai cổ phần hoá, Agribank chủ động phối hợp cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan theo yêu cầu Bộ Tài chính, UBND tỉnh, thành phố phê duyệt phương án sắp xếp xử lý của Agribank sớm hoàn thành đề án cổ phần hoá theo lộ trình.

Hướng tới chiến lược phát triển dài hạn

Với năm 2019, Thống đốc lưu ý những nhiệm vụ Agribank cần phải tập trung.

Thứ nhất, Agribank xác định mục tiêu, định hướng và giải pháp phát triển; có đề án cơ cấu lại nhưng đề án là tới năm 2020, cần phải lưu ý tới Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng - chiến lược phát triển dài hạn của ngành Ngân hàng, trong đó có Agribank, bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ hàng năm phải quan tâm xây dựng chiến lược phát triển dài hạn, tạo cho Agribank hướng đi, lộ trình phát triển trong nhiều năm tới.

Thứ hai, Hội đồng thành viên, Ban điều hành chỉ đạo các cấp Agribank quán triệt kỹ lưỡng, tổ chức thực hiện theo đúng chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết 01, 02 và Chỉ thị 01 của Thống đốc.

Thứ ba, duy trì dư nợ cho vay với nông nghiệp nông thôn đúng tỷ trọng mà Agribank đã cam kết trong Đề án cơ cấu lại, bởi vai trò của Agribank trong việc phát triển tam nông là rất lớn và đặc biệt quan trọng.

Agribank tiếp tục triển khai một số điểm mới trong Nghị định 116, trong đó tập trung quan tâm lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, thúc đẩy hoạt động tín dụng tiêu dùng của Agribank để đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tín dụng đen. Trong nguồn vốn tín dụng cho vay tiêu dùng, đặc biệt quan tâm đối tượng đồng bào dân tộc, học sinh sinh viên, người lao động ở khu công nghiệp...

Thứ tư, tập trung quyết liệt thực hiện Đề án tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2010.

Thứ năm, áp dụng công nghệ mới phục vụ cho công tác quản trị điều hành, cung cấp các sản phẩm ngân hàng theo hướng tự động hoá, giảm thiểu chi phí. Mạng lưới rộng, có thể áp dụng các công nghệ tới những khu vực còn khó khăn, vùng sâu vùng xa.

Nhiệm vụ trong năm 2019 và những năm tiếp theo đối với Agribank theo đánh giá Thống đốc là rất nặng nề. Nhưng Ban cán sự Đảng, Ban lãnh đạo NHNN tin tưởng chắc chắn với những kết quả, thành tích, truyền thống những năm qua cùng với nỗ lực phấn đấu, đoàn kết, Agribank sẽ hoàn thành xuất sắc kế hoạch kinh doanh 2019 cũng như lộ trình cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu trong thời gian tới.

“Thành tích của Agribank sẽ góp phần quan trọng vào kết quả điều hành chính sách tiền tệ, hoạt động ngân hàng của NHNN và toàn bộ hệ thống. Qua đó củng cố niềm tin của Quốc hội, Chính phủ, doanh nghiệp, người dân, toàn bộ nền kinh tế đối với hệ thống ngân hàng nói chung và Agribank nói riêng”, Thống đốc bày tỏ hy vọng.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.150 23.250 26.035 26.766 29.602 30.076 202,43 210,81
BIDV 23.150 23.250 26.004 26.376 29.602 30.084 207,35 211,01
VietinBank 23.139 23.249 26.031 26.786 29.574 30.134 207,42 213,92
Agribank 23.155 23.235 25.966 26.340 29.351 29.807 207,68 211,26
Eximbank 23.140 23.240 26.010 26.358 29.690 30.087 208,24 211,02
ACB 23.160 23.240 25.998 26.439 29.744 30.173 207,94 211,46
Sacombank 23.157 23.259 26.064 26.468 29.761 30.171 207,35 211,93
Techcombank 23.130 23.250 25.782 26.505 29.379 30.223 206,80 212,32
LienVietPostBank 23.140 23.240 25.886 26.450 29.664 30.201 207,43 211,97
DongA Bank 23.170 23.240 26.020 26.310 29.460 29.820 207,30 211,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.800
37.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.800
37.000
Vàng SJC 5c
36.800
37.020
Vàng nhẫn 9999
36.800
37.200
Vàng nữ trang 9999
36.550
37.150