10:57 | 14/08/2019

Áp lực của cuộc chiến thương mại

Hiện nay kinh tế Mỹ đang tăng trưởng chậm lại khi tác động của chương trình giảm thuế trị giá 1.500 tỷ USD hồi năm ngoái giảm dần.

Số liệu công bố từ Viện Quản lý Nguồn cung (ISM) cho biết chỉ số PMI tổng hợp trong tháng 7 đạt 51,6 điểm, thấp hơn nhiều mức PMI cùng thời điểm của năm ngoái. Đáng chú ý là hoạt động của khu vực chế biến chế tạo đang tiến dần đến ngưỡng thu hẹp khi chỉ số PMI của khu vực chế biến chế tạo đã giảm từ mức 51 điểm của tháng trước xuống còn 50 điểm trong tháng 7. Trong khi đó, chỉ số PMI trong lĩnh vực phi chế tạo đã giảm từ 55,1 trong tháng 6 xuống 53,7 trong tháng 7, mức thấp nhất kể từ tháng 8/2016.

Ảnh minh họa

Như vậy, kinh tế Mỹ đang ghi nhận sự suy giảm trên mọi lĩnh vực. Đây là tín hiệu cho thấy nền kinh tế lớn nhất thế giới có thể giảm tốc hơn nữa vào đầu quý III/2019. Trước đó, vào quý II kinh tế Mỹ đã ghi nhận sự giảm tốc với mức tăng trưởng chỉ đạt 2,1% so với cùng kỳ, thấp hơn mức tăng 3,1% của quý I. Nền kinh tế lớn nhất thế giới được dự báo sẽ chỉ đạt mức tăng trưởng 1,5% trong quý III/2019.

Trong khi kinh tế Mỹ đang đối mặt với nhiều áp lực suy giảm thì diễn biến cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung lại đang tiếp tục xấu đi. Tổng thống Mỹ Donald Trump vào ngày 1/8 đã tuyên bố sẽ áp thuế bổ sung 10% đối với số hàng hóa trị giá 300 tỷ USD của Trung Quốc từ ngày 1/9 tới. Tình trạng xấu đi trong quan hệ thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đã tạo sức ép lên các thị trường tài chính. Đồng USD giảm giá so với rổ tiền tệ. Chứng khoán Phố Wall cũng sụt giảm.

Không những thế, thuế trừng phạt được Mỹ áp lên hàng hóa của các đối tác thương mại đúng vào lúc nền kinh tế các nước này đang mất động lực, từ đó làm giảm nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ của Mỹ, từ đó càng đẩy nhanh tình trạng suy thoái của lĩnh vực chế biến chế tạo. Bên cạnh đó, sự không chắc chắn mà cuộc chiến thuế quan tạo ra đã làm cho các doanh nghiệp Mỹ lo ngại về chuỗi cung ứng và các thị trường của họ, khiến các khoản đầu tư mới bị treo và gây tâm lý thận trọng trong việc tuyển dụng lao động.

Các thống kê trên cùng với sự leo thang trong cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung làm gia tăng đồn đoán Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất vào tháng tới để duy trì đà tăng trưởng kinh tế trong 10 năm, thời gian dài nhất trong lịch sử. Vào ngày 31/7 vừa qua, Fed đã hạ lãi suất xuống 2-2,25% trước những rủi ro gia tăng đối với nền kinh tế do căng thẳng thương mại và đà giảm tốc của kinh tế toàn cầu.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.580 26.485 29.483 29.985 205,48 219,80
BIDV 23.145 23.265 25.654 26.405 29.550 30.112 207,71 214,54
VietinBank 23.136 23.266 25.577 26.412 29.450 30.090 210,59 216,59
Agribank 23.145 23.255 25.487 25.879 29.437 29.920 210,88 214,73
Eximbank 23.140 23.250 25.598 25.952 29.595 30.004 211,83 214,76
ACB 23.130 23.255 25.607 25.960 29.652 29.985 212,03 214,95
Sacombank 23.103 23.263 25.611 26.063 29.639 30.044 211,06 215,58
Techcombank 23.134 23.274 25.364 26.360 29.277 30.200 210,41 217,59
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.536 26.011 29.626 30.065 211,35 215,28
DongA Bank 23.160 23.250 25.620 25.940 29.590 29.990 208,40 214,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.480
41.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.480
41.750
Vàng SJC 5c
41.480
41.770
Vàng nhẫn 9999
41.470
41.920
Vàng nữ trang 9999
40.950
41.750