10:54 | 11/07/2018

Áp lực dồn dập lên xuất khẩu

Nếu thương mại Mỹ - Trung căng thẳng hơn, có thể ảnh hưởng tới Việt Nam, nhưng có cả cơ hội và thách thức. 

DN xuất khẩu muốn có tín dụng khép kín
Xuất khẩu thủy sản: Tín hiệu tích cực từ thị trường Trung Quốc
Các nhà xuất khẩu lạc quan về tỷ giá

Kết thúc 6 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tiếp tục duy trì mức tăng trưởng 2 con số, ước tăng 16% so với cùng kỳ năm 2017. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đang chậm dần lại, đồng thời nhiều áp lực từ thị trường thế giới dồn lên trong 6 tháng cuối năm khiến việc cán đích mục tiêu xuất khẩu cả năm sẽ là một thách thức lớn.

Ảnh minh họa

Cụ thể, số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, tính đến hết tháng 6/2018, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước ước đạt 113,93 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2017. Đáng chú ý đã có 20 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Những mặt hàng dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu tiếp tục là điện thoại các loại và linh kiện (22,5 tỷ USD), máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (13,45 tỷ USD), hàng dệt, may (13,42 tỷ USD), máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng (7,8 tỷ USD), giày dép các loại (7,79 tỷ USD), rau quả (hơn 2 tỷ USD), thủy sản (gần 4 tỷ USD)…

Mức tăng trưởng xuất khẩu 16% mặc dù thấp hơn so với mức tăng của năm 2017 nhưng vẫn cao hơn kế hoạch. Đặc biệt cả nước tiếp tục duy trì xuất siêu ở mức 2,71 tỷ USD. Điểm tích cực nữa là trong khi tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của khối DN FDI chậm lại (14,5%) thì khối DN trong nước vẫn duy trì được phong độ (19,9%).

Đối với các thị trường trọng điểm, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tiếp tục duy trì mức tăng như thị trường Mỹ đạt 9,2%, EU tăng 12,3%, Trung Quốc tăng 28%, Hàn Quốc tăng 31,8%, ASEAN tăng 17,4%... Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang một số thị trường tiềm năng cũng đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung, như Ấn Độ tăng 96,6%, Irắc tăng 27,9%, Ukraina tăng 21,1%...

Tuy nhiên, xuất khẩu vẫn chưa hoàn thành được 50% mục tiêu mà Bộ Công thương đề ra cho năm 2018 là tổng kim ngạch đạt khoảng 235,5 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2017. Điều đó cũng có nghĩa, để hoàn thành mục tiêu này phải đạt mức xuất khẩu bình quân 20,45 tỷ USD/tháng cho 6 tháng cuối năm. Với việc tập trung vào khai thác các thị trường tiềm năng cho  hàng xuất khẩu, đặc biệt thúc đẩy các thị trường mà Việt Nam đã ký kết FTA cùng với “qua phân tích thị trường và năng lực các ngành hàng cũng như các giải pháp mục tiêu thì tăng trưởng xuất khẩu năm 2018 khả năng đạt được nếu chúng ta nỗ lực”, ông Trần Tuấn Anh khẳng định.

Tuy nhiên, trái với nhận định của Bộ Công thương về việc tận dụng cơ hội từ các FTA, ông Nguyễn Bích Lâm - Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cảnh báo, Việt Nam mặc dù 6 tháng đầu năm cán cân thương mại cả nước thặng dư 2,7 tỷ USD, nhưng lại thâm hụt ở hầu hết các thị trường có ký FTA với Việt Nam. Đặc biệt tình trạng này đã kéo dài trong suốt 3 năm trở lại đây. Trong đó năm 2016 nhập siêu 26,7 tỷ USD trong khi cả nước xuất siêu; năm 2017 mức nhập siêu này là 32,5 tỷ USD, trong khi cả nước xuất siêu 2,9 tỷ USD. Riêng 6 tháng 2018 nhập siêu từ các thị trường này 29,1 tỷ USD. “Khi ký FTA chúng ta cố gắng để mở rộng xuất khẩu, giảm nhập siêu, nhưng cuối cùng những năm gần đây lại nhập siêu khá cao từ chính các thị trường này”, ông Lâm lo ngại về khả năng tận dụng cơ hội từ FTA của Việt Nam.

Đánh giá về tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đối với xuất khẩu của Việt Nam, bà Phạm Thị Quỳnh Lợi - Phó Vụ trưởng Vụ Thống kê thương mại dịch vụ, Tổng cục Thống kê phân tích, xuất khẩu sang thị trường Mỹ giữ tốc độ ổn định như cùng kỳ 2017, đạt khoảng 9% và thặng dư thương mại với Mỹ lại tăng cao hơn cùng kỳ năm trước.

Nếu thương mại Mỹ - Trung căng thẳng hơn, có thể ảnh hưởng tới Việt Nam, nhưng có cả cơ hội và thách thức. Việt Nam có lợi thế cạnh tranh so với các sản phẩm của Trung Quốc vào thị trường Mỹ, vì vậy cơ hội sẽ dành cho các DN chủ động tìm hiểu quy tắc xuất xứ để đáp ứng các tiêu chí của thị trường Mỹ. Ngược lại, thách thức đến từ việc hàng Trung Quốc có khả năng tìm cách nhập khẩu ồ ạt vào Việt Nam rồi lợi dụng quy tắc xuất xứ để xuất khẩu sang Mỹ, vì vậy các nhà quản lý phải kiểm soát chặt chẽ.

“Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Theo tính toán của chúng tôi sẽ làm giảm 0,08 điểm % năm 2018 và 0,14 điểm % năm 2019. Kim ngạch xuất nhập khẩu đều suy giảm”, TS. Lương Văn Khôi, Trung tâm Thông tin dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cảnh báo.

Một thách thức lớn khác đối với xuất khẩu đã hiện hữu là việc các nước tăng cường áp dụng các biện pháp bảo hộ, quy định tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm và về bảo vệ môi trường ngày càng khắt khe.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.010 23.080 26.667 26.986 29.878 30.357 201,54 208,12
BIDV 23.015 23.085 26.677 26.986 29.904 30.345 201,72 204,73
VietinBank 23.004 23.084 26.609 26.987 29.831 30.391 201,66 205,06
Agribank 23.005 23.080 26.656 26.990 29.904 30.338 201,71 204,90
Eximbank 23.000 23.090 26.669 27.015 29.990 30.380 202,63 205,26
ACB 23.020 23.090 26.675 27.009 30.087 30.386 202,67 205,20
Sacombank 23.009 23.101 26.707 27.068 30.067 30.424 202,55 206,20
Techcombank 22.990 23.090 26.440 27.149 29.672 30.497 201,26 206,42
LienVietPostBank 23.000 23.100 26.607 27.058 30.033 30.441 201,97 205,56
DongA Bank 23.020 23.090 26.690 26.990 30.010 30.370 201,20 205,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.660
36.860
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.660
36.840
Vàng SJC 5c
36.660
36.860
Vàng nhẫn 9999
35.000
35.400
Vàng nữ trang 9999
34.650
35.350