09:23 | 12/06/2019

Australia đối mặt với áp lực trong tăng trưởng

Mới đây, Cơ quan Thống kê Australia (ABS) đã công bố các dữ liệu về tình hình kinh tế trong quý I/2019. Theo đó, lần đầu tiên trong vòng một thập kỷ, kinh tế của Australia chỉ tăng trưởng 0,4% so với quý trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng 1% của cùng kỳ năm ngoái.

Chi tiêu hộ gia đình là một trong những nguyên nhân chính góp phần gây nên điều này khi chỉ tăng 1,8% trong vòng 12 tháng, đóng góp 0,1 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Trong khi đó, chi tiêu của chính phủ là điểm sáng lớn nhất, với mức tăng 0,8% trong quý I và 5,1% trong vòng 1 năm qua, chủ yếu thông qua các chính sách chi phúc lợi công cộng cho các dịch vụ chăm sóc y tế, cho người khuyết tật và người già.

Tăng trưởng kinh tế của Australia vẫn nằm trong phạm vi kỳ vọng của thị trường

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, có một số nguyên nhân dẫn đến việc chững lại của kinh tế Australia trong năm 2019. Đầu tiên là những khó khăn đến từ Trung Quốc-đối tác thương mại lâu đời và quan trọng nhất của Australia. Theo số liệu mới nhất được công bố, tăng trưởng doanh số bán lẻ của Trung Quốc hiện đạt mức thấp nhất trong 15 năm qua và hoạt động sản xuất đang suy yếu. Tình hình này báo hiệu một viễn cảnh không mấy sáng sủa cho các đối tác của Trung Quốc, trong đó có Australia.

Bên cạnh đó, là thị trường bất động sản tại Australia phát triển khá nóng trong giai đoạn trước, hiện đang tiềm ẩn những nguy cơ đổ vỡ và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.

Theo thống kê của CoreLogic, giá nhà trung bình ở Australia hiện đã giảm 3,5% so với mức đỉnh, và tại một số thành phố, tình hình thậm chí còn tồi tệ hơn. Giá ở Perth giảm 25% kể từ mức đỉnh điểm năm 2007, Sydney giảm 8% và Melbourne giảm 6,6% chỉ từ đầu năm 2019 đến nay.

Việc giảm giá nhà đất có thể là tin tốt lành đối với khả năng chi trả của người dân, nhưng  lại gây ra những tổn thương thực sự to lớn cho nền kinh tế Australia do có thể làm gia tăng nguy cơ đổ vỡ từ các khoản nợ có giá trị thế chấp từ bất động sản.

Thị trường nhà đất phát triển nóng thời gian trước đây cũng dẫn đến một hệ lụy đó là tỷ lệ nợ tư nhân tại Australia hiện đạt 187% tổng thu nhập của người dân. Trong khi đó, việc tiền lương tăng chậm sẽ khiến nhiều hộ gia đình phải cắt giảm chi tiêu, gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế.

Theo nhà kinh tế trưởng của AMP Capital là Shane Oliver, kinh tế Australia đang phải chịu ngày càng nhiều rủi ro sau gần 3 thập kỷ không bị suy thoái. Cụ thể, mặc dù triển vọng tăng trưởng trong ngắn hạn vẫn khả quan, song về trung và dài hạn sẽ gặp nhiều thử thách hơn do chi tiêu vào cơ sở hạ tầng của chính phủ có khả năng chậm lại sau năm 2019; Lĩnh vực xây dựng dân dụng dường như cũng tiếp tục suy giảm, chi tiêu cho tiêu dùng dự kiến vẫn yếu và những tác động có thể gặp phải từ hậu quả của các cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới triển vọng kinh tế toàn cầu.

Trong khi đó, ông Jim Chalmers phụ trách tài chính của Công đảng đối lập cho rằng, Australia đang ở trong thời kỳ suy thoái do các chính sách điều hành kinh tế của chính phủ, thực tế là tiền lương của người lao động chỉ tăng bằng 1/8 so với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của chủ doanh nghiệp.

Phát biểu về các con số thống kê mới được công bố, Bộ trưởng Ngân khố Josh Frydenberg khẳng định, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Australia vẫn nằm trong phạm vi kỳ vọng của thị trường và tăng trưởng việc làm mạnh mẽ là dấu hiệu rất tốt.

Ông Frydenberg tin tưởng rằng kế hoạch cắt giảm thuế cá nhân được áp dụng sau ngày 1/7 sẽ là một trong những động lực chính tạo đà tăng trưởng cho kinh tế của Australia. Bên cạnh đó, động thái hạ lãi suất cơ bản của Ngân hàng dự trữ Australia (RBA) gần đây cũng sẽ tạo động lực khiến người dân tăng chi tiêu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong các quý tới.

Các chuyên gia nhận định, Australia là quốc gia mới nhất đã gia nhập câu lạc bộ những nền kinh tế chuyển hướng sang nới lỏng chính sách tiền tệ khi chiến tranh thương mại Mỹ - Trung leo thang. Trước đó, một loạt Ngân hàng trung ương khu vực châu Á như Philippines, Malaysia… cũng đã hạ lãi suất để kích thích phát triển kinh tế.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700