11:00 | 18/11/2019

Bà Lagarde sẽ tiếp nối chính sách nới lỏng của ông Draghi

Theo các nhà kinh tế tham gia cuộc khảo sát mới đây của Reuters, chính sách nới lỏng tiền tệ của NHTW châu Âu (ECB) sẽ không thể làm hồi sinh nền kinh tế yếu kém của khu vực đồng euro. Tuy nhiên, tân Chủ tịch ECB Christine Lagarde sẽ theo đuổi chính sách nới lỏng tương tự như người tiền nhiệm - ông Mario Draghi.

Christine Lagarde - Người phụ nữ đầu tiên trên “ghế nóng” của ECB
Di sản của Chủ tịch ECB Mario Draghi
ECB liệu có vô tình thắt chặt chính sách?

ECB đã nối lại hoạt động mua trái phiếu với quy mô 20 tỷ euro mỗi tháng. Trước đó hồi tháng 9 ECB đã cắt giảm lãi suất sâu hơn dưới mức 0% và vẫn để ngỏ khả năng có thể cắt giảm thêm lãi suất trong tương lai. Mặc dù vậy các chỉ số vẫn cho thấy sự chậm lại trong khu vực đồng euro, cho dù nguy cơ suy thoái trong năm tới đã giảm xuống còn 25% từ mức 30% trong cuộc thăm dò trước đó; nguy cơ suy thoái trong hai năm tới cũng giảm xuống 30% từ 35%.

Tân Chủ tịch ECB Lagarde

Trên thực tế, bất chấp việc ECB đã tái khởi động chương trình kích thích tiền tệ, lạm phát khu vực đồng Euro vẫn giảm xuống dưới một nửa mục tiêu ECB là ngay sát dưới 2%. Cuộc thăm dò của Reuters được tiến hành từ ngày 11 đến 14/11 cho thấy, lạm phát nó sẽ không đạt mục tiêu cho tới ít nhất là đến tháng 7/2021.

Cụ thể, dự đoán trung bình về lạm phát là 1,2% trong năm tới, không thay đổi so với khảo sát tháng 10. Dự báo lạm phát trung bình cho năm 2021 là 1,4%, mức thấp nhất kể từ khi các chuyên gia kinh tế bắt đầu dự báo cho giai đoạn này vào tháng Giêng năm nay. Đáng chú ý, dự báo lạm phát hàng quý trong giai đoạn từ nay đến cuối năm 2020 đều bị hạ xuống, hoặc cùng lắm là giữ nguyên so với cuộc khảo sát tháng trước.

Về tăng trưởng, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của khu vực đồng euro tăng trưởng 0,2% trong quý 3 so với quý trước đó. Kết quả cuộc khảo sát của Reuters với hơn 80 nhà kinh tế dự đoán tốc độ tăng trưởng trung bình của khu vực ở mức 0,2% đến 0,3% mỗi quý từ nay đến giữa năm 2021, phần lớn không thay đổi so với cuộc thăm dò trước.

Hơn 90% các nhà kinh tế đã trả lời một câu hỏi bổ sung cho biết tân Chủ tịch ECB Lagarde sẽ đi theo lập trường chính sách của người tiền nhiệm - ông Mario Draghi. Bà Christine Lagarde đã chính thức đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch ECB từ ngày 1/11 thay cho ông Mario Draghi đã mãn nhiệm. Bà và các thành viên Hội đồng Thống đốc của ECB đã gặp nhau vào thứ Tư sau khi vấp phải sự phản đối công khai từ một số nhà hoạch định chính sách về việc kích thích tiền tệ đã làm dấy lên mối nghi ngờ trên thị trường về khả năng ECB có thể nới lỏng hơn.

Theo đó, bất chấp những kỳ vọng về sự tăng trưởng mờ nhạt trong các quý tới, dự báo về thời điểm cắt giảm lãi suất tiền gửi tiếp theo của ECB, xuống -0,6% từ -0,5%, đã được chuyển sang quý hai năm sau thay vì quý đầu năm như dự đoán một tháng trước. Lãi suất tái cấp vốn được nhìn thấy không thay đổi ở mức 0,0% cho đến cuối năm 2021.

“Chúng tôi nghĩ rằng cuối cùng nếu tăng trưởng tiếp tục gây thất vọng và đặc biệt là lạm phát, sẽ có nhiều áp lực hơn đối với ECB để giảm tiếp lãi suất ít nhất một lần nữa”, Elwin de Groot - Trưởng bộ phận chiến lược vĩ mô tại Rabobank cho biết. Nguyên do việc cắt giảm lãi suất có lẽ là con đường ít trở ngại nhất, bởi việc tăng cường nới lỏng định lượng rõ ràng là khó khăn hơn.

Trả lời câu hỏi phụ về việc liệu bà Lagarde có thành công trong việc kêu gọi sự chia lửa từ chính sách tài khóa để thúc đẩy nền kinh tế khu vực vốn đang tăng trưởng chậm chạp hiện nay, có tới 60% trong số 43 nhà kinh tế nói không. “Lagarde chắc chắn sẽ cố gắng. Nhưng kinh nghiệm đã chỉ ra rằng việc phối hợp của 19 quốc gia là quá khó”, Jens Oliver Niklasch - chuyên gia kinh tế cao cấp tại LBBW cho biết.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.200
41.440
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.200
41.420
Vàng SJC 5c
41.200
41.440
Vàng nhẫn 9999
41.160
41.580
Vàng nữ trang 9999
40.620
41.420