13:00 | 05/06/2019

Băn khoăn về phân bổ và sử dụng nguồn dự phòng

Thảo luận tại hội trường về việc phân bổ và sử dụng nguồn dự phòng còn lại của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn năm 2016 - 2020, một số đại biểu tỏ ý băn khoăn về phân bổ và sử dụng nguồn dự phòng này đồng thời đưa ra kiến nghị cần tuân thủ đúng nguyên tắc và sử dụng cho hiệu quả.

Quốc hội thảo luận ở tổ về việc phân bổ nguồn dự phòng đầu tư công trung hạn
Đầu tư công trung hạn 2016-2020: Điều chỉnh tăng vốn nước ngoài, giảm trong nước
Ảnh minh họa

Đại biểu Trần Hoàng Ngân (TP. Hồ Chí Minh) cho biết, trong tháng 11/2016, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết 25, Nghị quyết 26 về kế hoạch đầu tư công, kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế và kế hoạch tài chính. Trong kế hoạch đầu tư công, dành ra 2.000.000 tỷ đồng chia ra ngân sách trung ương là 1.120.000 tỷ đồng và ngân sách địa phương là 880.000 tỷ đồng. Trong 1.120.000 tỷ đồng đó phân bổ 90% và dự phòng 10%.

“Dự phòng ở đây không chỉ để chi tiếp cho các dự án gặp khó khăn, thiên tai, lũ lụt mà có ý nghĩa dự phòng cho nguồn thu không đạt được. Chúng ta muốn có tiền để chi 1.120.000 tỷ đồng phải dự phòng nguồn. Lỡ nguồn thu không đủ thì lấy đâu ra chi”, ông Ngân đặt bài toán trước lo lắng không thu đủ từ nguồn có 260.000 tỷ đồng từ trái phiếu Chính phủ, trong đó 250.000 tỷ đồng là tiền cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước.

"Vậy liệu rằng chúng ta có  thu được số tiền này hay không hay vì dự thu không được nên từ đó mới dự phòng 10% này", ông Ngân đặt câu hỏi.

Theo đại biểu, để bàn vấn đề này phải có hai chiều, bên chi và bên cân đối về thu. Sau khi xem xét, tính toán, ông cho rằng trong 3 năm qua, tốc độ tăng nợ công cũng như nợ Chính phủ có giảm so với trước đây. Bình quân 5 năm trước tăng khoảng 300.000 tỷ đồng, bình quân 3 năm nay chỉ tăng 208.000 tỷ đồng, lý do chính là ở khâu giải ngân. 3 năm 2016 - 2017 - 2018, Quốc hội dự trù chi từ trái phiếu Chính phủ 145.000 tỷ đồng, Chính phủ phân bổ 124.000 tỷ đồng nhưng thực tế chỉ giải ngân được 67.150 tỷ đồng chiếm khoảng 50%.

Đặt vấn đề liệu “có cần tính thêm dự phòng để chi không khi hiện tại đang sử dụng không hết, phân bổ vốn giải ngân cũng không hết?”, đại biểu Ngân cho rằng “chưa cần phải bàn thêm dự phòng mà bàn thêm về số đã phân công, bố trí rồi mà chỉ sử dụng 50%. Vậy, nhiệm vụ của Chính phủ trong thời gian tới là phải tiếp tục rà soát để lấy vốn của dự án chậm chuyển cho dự án mà có khả năng triển khai được, như vậy sẽ hiệu quả trong vấn đề sử dụng nguồn vốn và đỡ lo tình hình cân đối ngân sách của chúng ta”.

Trên cơ sở đó, đại biểu kiến nghị, trong danh mục các dự án đầu tư Chính phủ có thể tách ra làm nhiều nhóm theo trình tự, thứ tự ưu tiên. Nhóm 1 là dự án thuộc cấp bách, an sinh xã hội do biến đổi khí hậu, chúng ta phải giải ngân ngay, ưu tiên đầu. Nhóm 2 là chưa thực sự cấp bách nhưng cần thiết trong tương lai, chúng ta ghi vào danh mục để triển khai giai đoạn chuẩn bị đầu tư vì giai đoạn chuẩn bị đầu tư tốn 2 năm và đến kế hoạch đầu tư công ở giai đoạn tiếp thì chúng ta ghi vốn và triển khai, vậy Quốc hội khóa XV tiếp theo sẽ hợp lý. Trên cơ sở đó, Chính phủ và Quốc hội nên cân nhắc quỹ dự phòng này.

Đại biểu Hoàng Quang Hàm (Phú Thọ) thì cho biết, từ kỳ họp trước cách đây 6 tháng, Quốc hội đã họp và khẳng định Chính phủ không thuyết minh được nguồn để sử dụng dự phòng, nếu đồng ý cho Chính phủ chia dự phòng sẽ thiếu khoảng 155.000 tỷ đồng, trái với quy định của Luật Đầu tư công và làm cho các dự án đang triển khai đã thiếu tiền càng thiếu tiền thêm, các dự án mới không có tiền để thực hiện.

Vì vậy, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 71 và đề ra nguyên tắc sử dụng vốn dự phòng chung trên cơ sở bảo đảm khả năng cân đối vốn đầu tư của ngân sách nhà nước hàng năm và các dự án được bố trí vốn dự phòng chung nguồn ngân sách trung ương phải bảo đảm nguyên tắc cân đối được nguồn trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm.

Đại biểu cho rằng, để có thể sử dụng vốn dự phòng chung theo nguyên tắc của Nghị quyết số 71 và Luật Đầu tư công chỉ có con đường là Chính phủ phải tìm được nguồn khả thi để bổ sung tiền hoặc rà soát, cắt giảm vốn trung hạn đã giao cho các dự án để tạo nguồn triển khai các dự án triển khai sử dụng vốn dự phòng chung. Tuy nhiên, đến nay các Tờ trình của Chính phủ ngoài phương án phân bổ, chia dự phòng chung không có thuyết minh bổ sung nguồn hay phương án cắt giảm các dự án tạo nguồn triển khai các dự án dự kiến sử dụng vốn dự phòng chung.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.260 25.903 26.761 28.708 29.168 207,73 215,91
BIDV 23.140 23.260 25.886 26.631 28.688 29.173 212,15 217,57
VietinBank 23.130 23.260 25.887 26.682 28.637 29.277 212,36 218,86
Agribank 23.145 23.250 25.890 26.286 28.710 29.185 212,32 216,19
Eximbank 23.140 23.250 25.916 26.274 28.806 29.204 213,25 216,20
ACB 23.130 23.250 25.917 26.274 28.875 29.199 213,18 216,12
Sacombank 23.100 23.250 25.912 26.317 28.826 29.228 212,26 216,81
Techcombank 23.120 23.260 25.656 26.516 28.457 29.326 211,63 218,93
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.849 26.328 28.830 29.260 212,79 216,73
DongA Bank 23.160 23.240 25.940 26.260 28.810 29.180 209,90 215,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.400
39.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.400
39.700
Vàng SJC 5c
39.400
39.720
Vàng nhẫn 9999
39.200
39.700
Vàng nữ trang 9999
38.900
40.150