10:05 | 11/08/2019

BĐS nghỉ dưỡng đa dạng hóa sản phẩm vừa túi tiền để tiếp cận nhiều nhà đầu tư

Thị trường BĐS nghỉ dưỡng đang mở rộng và đa dạng hóa, ngày càng xuất hiện các sản phẩm nghỉ dưỡng phong phú hơn và hướng đến một số lượng khách hàng lớn hơn.

BĐS nghỉ dưỡng đã từng được coi là sản phẩm đầu tư xa xỉ khi chỉ người mua chủ yếu là khách hàng có tiềm lực tài chính dồi dào và mục tiêu đầu tư dài hạn. Tuy vậy, qua thời gian, với sự phát triển của du lịch Việt Nam và hàng không giá rẻ, du khách ngày nay tìm kiếm các sản phẩm dịch vụ lưu trú vừa túi tiền hơn.

Thị trường BĐS nghỉ dưỡng vì vậy đã có bước phát triển mở rộng và đa dạng hóa với những sản phẩm mới vừa túi tiền và dễ tiếp cận hơn đối với số lượng nhà đầu tư lớn hơn.

Ông Dương Đức Hiển, Giám đốc Kinh doanh nhà ở miền Bắc & miền Trung, Savills Việt Nam cho hay, thị trường BĐS nghỉ dưỡng đang mở rộng và đa dạng hóa, ngày càng xuất hiện các sản phẩm nghỉ dưỡng phong phú hơn và hướng đến một số lượng khách hàng lớn hơn

Nghiên cứu toàn cầu Savills đã thực hiện khảo sát trên 4.300 chủ sở hữu ngôi nhà thứ 2 trên HomeAway tại 7 thị trường lớn là Mỹ, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Hà Lan, và Bồ Đào Nha ghi nhận xu hướng phát triển của sản phẩm căn hộ giá thấp hơn trên thị trường nhà thứ 2.

Trong năm 2017, 37% số lượng giao dịch là những BĐS dưới 200.000 USD. Giá bán trung bình của một BĐS trong năm ngoái là 291.000 USD, thấp hơn 37% so với một thập kỷ trước.

Điều này được lý giải bởi sự mở rộng của thị trường chung cư: căn hộ chung cư chiếm 34% số lượng giao dịch trong năm 2017 theo mẫu khảo sát, cao hơn so với con số 26% của năm 2007.

Xu hướng này cũng được ghi nhận tại thị trường nghỉ dưỡng Việt Nam. Thời điểm trước đây, khi thị trường BĐS Việt Nam mới bắt đầu phát triển, là thời kỳ của các dự án ở vị trí trung tâm đắc địa, với quỹ đất hạn hẹp và nguồn cung hạn chế, tạo nên các sản phẩm hạng sang với chi phí cao.

Loại hình sản phẩm chính của thị trường lúc này được coi là các sản phẩm lõi như biệt thự nghỉ dưỡng, biệt thự ven biển. Đối tượng người mua thời điểm này chủ yếu là các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính lớn với mục tiệu đầu tư dài hạn.

Tuy vậy, thời gian gần đây, với sự phát triển của du lịch Việt Nam, nhu cầu về dịch vụ lưu trú của khách hàng tầm trung ngày càng lớn. Trong năm 2018, Việt Nam đón 15,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế và khoảng 80 triệu khách du lịch nội địa, tăng 19,9% và 6,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Phần lớn trong số các khách du lịch này chỉ có ngân sách trung bình cho chuyến nghỉ dưỡng của mình và tìm kiếm các sản phẩm lưu trú vừa túi tiền.

Đáp ứng nhu cầu này, các nhà đầu tư cũng hướng đến việc đầu tư và phát triển các sản phẩm diện tích nhỏ hơn và các sản phẩm mới với mức giá hợp lý hơn.

Thị trường BĐS nghỉ dưỡng lúc này xuất hiện các sản phẩm như căn hộ dịch vụ, chung cư biển, căn hộ khách sạn (condotel) - được coi như một sản phẩm phái sinh từ mô hình lõi truyền thống. Với diện tích vừa phải, chi phí đầu tư của các BĐS không gắn liền với đất này không quá lớn và phù hợp với một tập nhà đầu tư lớn hơn trước.

Bên cạnh các thị trường nghỉ dưỡng đã khá phát triển như Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc, các nhà đầu tư cũng đang dần nhắm tới các địa phương mới như Ninh Thuận, Tuy Hòa, Quy Nhơn…

Có một nguồn cầu du lịch đáng kể tại những điểm đến hoang sơ và chưa quá thương mại hóa; thị trường nghỉ dưỡng vì vậy đã nhanh chóng tiếp bước. Chi phí đất tại các thị trường mới nổi này thấp hơn, mở ra cơ hội đầu tư cho nhiều nhà đầu tư hơn.

Chủ đầu tư các dự án nghỉ dưỡng cũng đang đưa ra nhiều chương trình đầu tư linh hoạt để thu hút khách hàng, ví dụ như chương trình cho thuê lại (cam kết hoặc chia sẻ lợi nhuận), cho thuê dài hạn hoặc bán và cam kết mua lại bất động sản.

Tương quan với các sản phẩm đầu tư BĐS ngôi nhà thứ 2 tại Hà Nội & TP.HCM, đây là một phương án đầu tư hấp dẫn với chi phí đầu tư không quá lớn và lợi nhuận khả quan. Đây là lý do các thị trường nghỉ dưỡng thu hút một lượng khách hàng không nhỏ từ hai thành phố lớn của Việt Nam.

Không chỉ thu hút nhà đầu tư trong nước, thị trường nghỉ dưỡng Việt Nam có sức hút không nhỏ đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Sự quan tâm của các khách nước ngoài mua ngôi nhà thứ 2 tại Việt Nam đã được ghi nhận từ nhiều năm nay bởi thị trường nghỉ dưỡng tiềm năng và giá BĐS nhà ở cạnh tranh so với các nước phát triển.

Từ khi Luật Nhà ở sửa đổi năm 2015 cho phép cá nhân và tổ chức nước ngoài sở hữu BĐS tại Việt Nam, số lượng người nước ngoài quan tâm đến và mua ngôi nhà thứ 2 tại Việt Nam tăng đáng kể. Một số dự án tại Hà Nội, Hồ Chí Minh và Đà Nẵng sau khi mở bán đã nhanh chóng đạt ngưỡng tỷ lệ người mua nước ngoài tối đa.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.472 26.346 29.403 29.904 205,46 219,78
BIDV 23.145 23.265 25.550 26.305 29.497 30.058 210,52 214,35
VietinBank 23.132 23.262 25.475 26.310 29.373 30.013 210,35 216,35
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.497 25.849 29.521 29.930 211,71 214,65
ACB 23.130 23.255 25.502 25.841 29.590 29.909 211,60 214,42
Sacombank 23.108 23.268 25.517 25.974 29.571 29.974 210,87 215,41
Techcombank 23.140 23.280 25.263 26.257 29.193 30.110 210,19 217,35
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.427 25.886 29.542 29.967 211,19 215,03
DongA Bank 23.160 23.250 25.520 25.840 29.530 29.920 208,30 214,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.470
41.760
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.470
41.740
Vàng SJC 5c
41.470
41.760
Vàng nhẫn 9999
41.460
41.910
Vàng nữ trang 9999
40.940
41.740