11:00 | 09/11/2017

Bỏ hạn ngạch nhập khẩu, mía đường lao đao

 Dự báo mặt hàng đường nói riêng cũng như nhiều hàng hóa khác từ các nước ASEAN sẽ ồ ạt “đổ bộ” vào thị trường việt Nam tạo nên sức ép không hề nhỏ đối với các DN trong nước...

Gỡ khó cho đường Việt
Đường dư cung tồn kho báo động
Ảnh minh họa

Cuối tháng 8/2017, 28 DN đã tham gia đấu giá gần 90.000 tấn đường thuộc hạn ngạch thuế quan nhập khẩu năm 2017 để phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh trong nước. Tuy nhiên, đây cũng là phiên đấu giá cuối cùng bởi bắt đầu từ tháng 1/2018, đường sẽ là mặt hàng nhập khẩu không cần hạn ngạch và mức thuế suất cũng sẽ giảm về 0%.

Điều này sẽ khiến cho không ít DN ngành mía đường lo lắng, tuy nhiên theo nhận định của các chuyên gia, không có ưu đãi hay luật chơi riêng cho bất cứ DN thuộc lĩnh vực, ngành nghề nào khi Việt Nam ký kết hiệp định thương mại tự do với các nước trong khu vực và thế giới khi tham gia sân chơi chung bình đẳng.

Tính đến thời điểm hiện tại hầu hết các nước ASEAN đã thực hiện giảm thuế về 0% theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) cho mặt hàng đường, ngoại trừ  một vài nước như Philippines, Campuchia, Việt Nam giữ mức thuế suất là 5%, Indonesia 5-10% và Myanmar 0-5%. Song theo lộ trình cam kết, thuế này bắt buộc phải giảm về 0% đối với tất cả các nước ký kết khi thời gian ấn định đã đến.

Một phó phòng ban quản lý xuất nhập khẩu ngành hải quan cho biết, trên thực tế hiện nay mặt hàng đường (mã HS 1701) nếu có hạn ngạch thuế quan sẽ được hưởng thuế suất ở mức 5% khi nhập khẩu từ các nước ASEAN có kèm theo C/O form D, hoặc mức 25% đối với đường thô và 40% đối với đường trắng nếu nhập khẩu từ các nước ngoài ASEAN. Nếu không có hạn ngạch, thuế suất thuế nhập khẩu đường sẽ là 80% đối với đường thô và 85% đối với đường trắng.

Tuy nhiên, chỉ còn hơn tháng nữa, hạn ngạch nhập khẩu đường được dỡ bỏ, thuế xuất nhập khẩu mía đường từ các nước trong khu vực ASEAN chỉ còn  0%. Dự báo mặt hàng đường nói riêng cũng như nhiều hàng hóa khác từ các nước ASEAN sẽ ồ ạt “đổ bộ” vào thị trường việt Nam tạo nên sức ép không hề nhỏ đối với các DN trong nước.

Hiện tại giá bán mặt hàng đường trong nước đã xuống “đáy”, chỉ còn khoảng 12.000 đồng/kg, tuy nhiên lượng đường tồn kho tại các nhà máy vẫn còn khá nhiều. Thống kê của Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA), hiện còn khoảng hơn 300.000 tấn đường tồn kho chưa bán được. Đó là chưa kể hàng chục nghìn tấn đường vẫn được các nhà máy tiếp tục sản xuất thêm trong thời gian qua cũng đang khiến mặt hàng này càng phải chịu thêm áp lực, khó khăn trong việc tìm kiếm đầu ra.

Theo ông Phạm Quốc Doanh, Chủ tịch VSSA, vào thời điểm hiện tại các DN ngành mía đường đang phải đối mặt với áp lực cả từ bên trong lẫn bên ngoài khi giá nguyên liệu thu mua đầu vào cao, giá thành sản phẩm thấp, trong khi sức cầu thị trường trong nước và quốc tế đều yếu.

Chính vì vậy, để phần nào tháo gỡ khó khăn trước mắt cho các DN trong ngành, vừa qua VSSA đã gửi văn bản kiến nghị trình Thủ tướng Chính phủ lùi thời gian thực hiện cam kết ATIGA đến năm 2020 để các DN mía đường có thời gian chuẩn bị tốt trong quá trình hội nhập.

Trên thực tế, để có được ngành mía đường lớn mạnh như ngày hôm nay của Thái Lan, Chính phủ nước này đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho các DN và ngành sản xuất nước họ. Cụ thể, cơ quan chức năng của Thái Lan có những hình thức hỗ trợ công khai như kiểm soát thị trường nội địa với mức giá cố định, phân chia thị phần, kiểm soát nhập khẩu hoặc cụ thể hơn là hỗ trợ tài chính trực tiếp với nguồn kinh phí lên đến 1,3 tỷ USD/năm.

Đặc biệt, thuế suất nhập khẩu đường của Thái Lan hiện vẫn duy trì ở mức cao, các chính sách  tập trung vào việc xác định cơ chế phân bổ lợi nhuận giữa nhà máy và người trồng mía, đảm bảo trợ cấp với nông dân và bảo hộ thương mại đối với DN...

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,20
4,20
4,70
5,20
5,40
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,80
4,80
5,20
5,80
6,00
6,80
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,80
4,80
5,20
5,80
6,00
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,30
5,40
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,10
5,10
5,20
5,90
5,90
6,70
6,80
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
4,90
5,00
5,20
6,10
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.690 22.760 26.751 27.084 29.881 30.360 201,41 205,36
BIDV 22.690 22.760 26.786 27.023 30.071 30.337 203,05 204,82
VietinBank 22.680 22.760 26.678 27.048 29.826 30.370 201,46 205,01
Agribank 22.670 22.760 26.664 27.056 29.942 30.366 201,93 205,20
Eximbank 22.670 22.760 26.691 27.038 29.973 30.364 202,35 204,99
ACB 22.700 22.770 26.717 27.052 30.087 30.388 202,62 205,16
Sacombank 22.685 22.777 26.761 27.122 30.065 30.420 202,59 205,66
Techcombank 22.670 22.770 26.442 27.158 29.640 30.460 200,62 206,55
LienVietPostBank 22.680 22.770 26.719 27.074 30.087 30.386 202,70 205,23
DongA Bank 22.690 22.760 26.740 27.040 30.020 30.360 202,30 203,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.420
36.640
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.420
36.620
Vàng SJC 5c
36.420
36.640
Vàng nhẫn 9999
35.510
35.910
Vàng nữ trang 9999
35.210
35.910