13:04 | 18/09/2019

Bước đi hợp lý để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế

Từ 16/9 các mức lãi suất điều hành của NHNN được cắt giảm 0,25 điểm phần trăm. Đây là lần giảm lãi suất điều hành đầu tiên của NHNN kể từ tháng 10/2017.

TS. Cấn Văn Lực: Quyết định giảm lãi suất điều hành là động thái phù hợp
Đồng bộ các biện pháp để ổn định mặt bằng lãi suất
Đầu tháng 8, các NHTM Nhà nước trong đó có Vietcombank đã giảm tiếp 0,5% lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên

Hỗ trợ các TCTD ổn định lãi suất

Lý giải cho việc điều chỉnh giảm lãi suất lần này, trao đổi với phóng viên, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ NHNN Phạm Thanh Hà cho biết, giai đoạn trước đây, trong bối cảnh lãi suất quốc tế gia tăng, NHNN đã điều hành đồng bộ các giải pháp chính sách tiền tệ nhằm ổn định mặt bằng lãi suất, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý.

Tuy nhiên gần đây, kinh tế thế giới diễn biến kém thuận lợi hơn, nhiều NHTW các nước trong đó có Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) và NHTW Châu Âu (ECB) đã giảm lãi suất điều hành. Trong nước, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm đạt 6,76%, lạm phát được kiểm soát phù hợp với mục tiêu khi lạm phát bình quân 8 tháng 2019 tăng 2,57%, lạm phát cơ bản tăng 1,9%, thị trường tiền tệ, ngoại hối diễn biến ổn định...  Sau khi đánh giá tất cả các yếu tố trên, NHNN thực hiện giảm lãi suất nhằm tiếp tục hỗ trợ nền kinh tế và thanh khoản cho các TCTD.

“Với nền tảng kinh tế vĩ mô trong nước tích cực như hiện nay, lãi suất về cơ bản sẽ diễn biến ổn định, được hỗ trợ bởi các yếu tố tích cực như thanh khoản hệ thống được đảm bảo, có dư thừa, tín dụng tăng phù hợp với chỉ tiêu định hướng. Ngoài ra, xu hướng NHTW các nước không còn theo đuổi chính sách tiền tệ thắt chặt như giai đoạn trước giúp giảm áp lực cho lãi suất trong nước. NHNN điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành sẽ giúp các TCTD có thể tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp hơn, hỗ trợ các TCTD ổn định mặt bằng lãi suất”, ông Hà chia sẻ.

Bộ phận phân tích khối khách hàng cá nhân CTCP Chứng khoán Sài Gòn (SSI Retail Research) cũng có chung quan điểm khi nhận định, thông điệp của NHNN hướng đến là giảm mặt bằng lãi suất làm giảm chi phí vốn, chứ không nhất thiết là nới lỏng tiền tệ.

Theo phân tích của SSI, trong ngắn hạn mặt bằng lãi suất giao dịch trên liên ngân hàng và lợi tức trái phiếu chính phủ các kỳ hạn ngắn trên thị trường thứ cấp là hai đối tượng chịu tác động mạnh nhất từ việc điều chỉnh lãi suất OMO. Trong ngày nhận được thông tin giảm lãi suất điều hành, lãi suất qua đêm trên liên ngân hàng đã giảm mạnh xuống 2,78%/năm (giảm 20 điểm cơ bản), lợi tức TPCP kỳ hạn 1-3 năm giảm từ 6-12 điểm cơ bản xuống quanh mức 2,6%/năm.

Xét dài hơn, các lãi suất trên thị trường liên ngân hàng sẽ dao động trong khoảng từ lãi suất tín phiếu đến lãi suất OMO từ 2,75%/năm đến 4,5%/năm. Trong điều kiện lý tưởng, giá vốn rẻ hơn trên thị trường liên ngân hàng và môi trường thanh khoản được kỳ vọng sẽ được giữ dồi dào sẽ tạo cơ sở để các NHTM điều chỉnh giảm mặt bằng lãi suất trên thị trường 1.

Chưa cần thiết phải giảm thêm lãi suất điều hành

Tuy nhiên, theo đánh giá của CTCK Bảo Việt, tác động của việc giảm các loại lãi suất trên tại Việt Nam sẽ không quá lớn ở các nước phát triển như Mỹ hay châu Âu... Bởi điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam là đặt mục tiêu trực tiếp về khối lượng cung tiền thông qua các chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán (M2) chứ không như FED hay ECB là điều tiết cung tiền thông qua mục tiêu trung gian là lãi suất.

Thêm vào đó, các loại lãi suất như tái chiết khấu, tái cấp vốn không phải là nghiệp vụ được sử dụng thường xuyên, chỉ diễn ra khi một số NHTM gặp khó khăn lớn về thanh khoản, buộc phải vay vốn từ NHNN khi không vay được thông qua kênh liên ngân hàng.

Cũng có chung nhận định như vậy, song theo SSI, đây là động thái tiếp theo sau một loạt các hành động trước đó như các NHTM Nhà nước tiên phong giảm lãi suất cho vay với các nhóm ngành ưu tiên tới 2 lần kể từ đầu năm đến nay. Chưa kể, NHNN tuyên bố sẽ xử lý nghiêm các NHTM chạy đua tăng lãi suất huy động, trong đó gồm cả việc cắt giảm tăng trưởng tín dụng; kiểm soát chặt chẽ các hoạt động cho vay bất động sản và đầu tư trái phiếu bất động sản của các NHTM… Qua đó thể hiện sự tăng cường kiểm soát dòng chảy tín dụng và chủ trương giảm mặt bằng lãi suất để hỗ trợ cho các doanh nghiệp.

“Trong bối cảnh có nhiều yếu tố thuận lợi như đã phân tích ở trên, các biện pháp kỹ thuật của NHNN nếu có được sự đồng lòng của các NHTM lớn thì mục tiêu giảm lãi suất vẫn có thể đạt được, mà chưa cần phải dùng đến biện pháp nới lỏng, bơm tiền vào nền kinh tế”, SSI nhận định.

Liệu từ nay đến cuối năm, NHNN sẽ có thêm các đợt cắt giảm lãi suất điều hành nữa. Qua đó tác động mạnh hơn tới tăng trưởng kinh tế?. TS Cấn Văn Lực - Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia cho rằng không cần thiết phải giảm thêm lãi suất.

Một là, lãi suất hiện nay không phải là điểm nghẽn đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Hai là mức độ ảnh hưởng của lãi suất điều hành đối với thị trường 1 không quá lớn, chủ yếu là tác động đến thị trường 2 và các ngân hàng có liên quan đến vấn đề thanh khoản, hoặc ngân hàng triển khai các gói tín dụng vay tái cấp vốn. Nên giả sử, NHNN có giảm thêm 1-2% lãi suất điều hành mà quan hệ tương quan đối với thị trường 1 không nhiều thì mức độ ảnh hưởng vẫn thế.

Về phía NHNN, ông Phạm Thanh Hà cho biết, chủ trương điều hành trong thời gian tới của NHNN tiếp tục theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ để điều hành linh hoạt và đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối.

Về tín dụng, tiếp tục kiểm soát tăng trưởng tín dụng theo định hướng cả năm khoảng 14%. Thực hiện đồng bộ các biện pháp để ổn định mặt bằng lãi suất. Về tỷ giá, theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường trong nước và quốc tế, diễn biến căng thẳng thương mại Mỹ - Trung, tiếp tục điều hành tỷ giá linh hoạt nhằm ổn định thị trường ngoại tệ.

SSI cũng đồng tình cho rằng, việc NHNN vẫn giữ mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 14% là hoàn toàn hợp lý. Bởi xét trong bối cảnh tổng cầu chậm cải thiện, tăng cung tiền sẽ tăng rủi ro lạm phát, nhập siêu và bong bóng tài sản. “Giá dầu tăng đột ngột và thương chiến Mỹ - Trung leo thang là hai cảnh báo nhãn tiền để tiếp tục thận trọng với chính sách tiền tệ”, tổ chức này khuyến nghị.

Doanh nghiệp hưởng ứng động thái giảm lãi suất

Theo ghi nhận của phóng viên, quyết định giảm các mức lãi suất điều hành của NHNN được cộng đồng doanh nghiệp hoanh nghênh nhiệt liệt.

Ông Đoàn Huỳnh Dũng - Chủ tịch HĐQT CTCP Xuất nhập khẩu Kiên Giang cho biết, từ đầu năm đến nay, dưới sự điều hành chủ động và linh hoạt của NHNN nên cả mặt bằng lãi suất và tỷ giá đều không có biến động lớn, qua đó hỗ trợ tích cực cho doanh nghiệp xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh. Đặc biệt các chương trình tín dụng ưu đãi của Chính phủ vẫn được các NHTM tập trung thực hiện nên các DN sản xuất - chế biến - xuất khẩu vẫn tiếp cận được nguồn vốn vay với lãi suất hợp lý.

Lấy ví dụ từ chính trường hợp của CTCP Xuất nhập khẩu Kiên Giang, ông Dũng cho biết, hồi đầu năm 2019 doanh nghiệp đã được BIDV và Vietcombank hỗ trợ vốn vay để tham gia mua tạm trữ lúa gạo vụ Đông Xuân 2018-2019. Do được các ngân hàng cho vay với lãi suất ưu đãi nên đã tiết giảm khá lớn chi phí sản xuất kinh doanh của công ty. Nay việc NHNN giảm tiếp các mức lãi suất điều hành có thể giúp các NHTM có được nguồn vốn rẻ hơn để ổn định lãi suất đầu ra khi cho vay đối với các DN sản xuất – kinh doanh.

Tuy nhiên để hỗ trợ tốt hơn cho các DN ngành nông nghiệp, ông Dũng đề nghị các ngân hàng cần linh hoạt tính toán gia tăng hạn mức cho vay đối với các DN lớn dựa trên những phương án kinh doanh hiệu quả.

Đồng quan điểm, ông Võ Quan Huy - Giám đốc Công ty TNHH Huy Long An cho rằng, mặt bằng lãi suất hiện đang ở mức rất thấp đã hỗ trợ tích cực cho cộng đồng DN phát triển SXKD. Là một DN có liên kết lớn với nông dân trong việc phát triển hơn 1.000 ha đất trồng chuối, nuôi bò sữa, nuôi tôm ở các tỉnh ĐBSCL, ông Huy cho biết, vài năm trở lại đây “lãi suất cho vay bao nhiêu không phải là vấn đề quan trọng” quan trọng là các hợp tác xã, các hộ nông dân cần có vốn để đầu tư, cần các ngân hàng đồng hành một cách thực sự.

Theo đó, ngân hàng cần đi sát với các DN, cùng kiến nghị để tháo gỡ những nút thắt lớn như: thay đổi cách định giá tài sản, áp dụng mức giá đất nông nghiệp tùy theo khu vực, địa phương...

Thạch Bình

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.335 26.205 28.880 29.373 202,12 215,27
BIDV 23.140 23.260 25.413 26.164 28.948 29.506 208,34 215,15
VietinBank 23.125 23.255 25.353 26.218 28.841 29.481 211,21 217,21
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.371 25.721 29.002 29.403 212,52 215,46
ACB 23.130 23.250 25.388 25.737 29.078 29.405 212,49 215,42
Sacombank 23.100 23.260 25.378 25.833 29.020 29.423 211,76 216,32
Techcombank 23.131 23.271 25.150 26.145 28.685 29.595 211,04 218,21
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.300 25.775 29.019 29.449 211,98 215,89
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.720 29.000 29.390 209,10 214,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.420
41.710
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.420
41.690
Vàng SJC 5c
41.420
41.710
Vàng nhẫn 9999
41.400
41.850
Vàng nữ trang 9999
40.890
41.690