11:21 | 29/01/2019

Các ngân hàng Trung Quốc đang 'khát' vốn

Các ngân hàng Trung Quốc không thể tiếp tục tốc độ tăng trưởng tín dụng như vừa qua mà không có một khoản tiền lớn hơn đổ vào.

Trung Quốc tăng trưởng thấp nhất trong 28 năm
Sáng kiến BRI của Trung Quốc bị đe dọa

Trong một thập kỷ qua, Trung Quốc chủ yếu dựa vào tăng trưởng tín dụng để hỗ trợ cho mức tăng trưởng kinh tế đầy tham vọng của mình.

Tuy nhiên, các ngân hàng nước này hiện đang gặp những khó khăn trong việc duy trì tăng trưởng cho vay do thiếu vốn và dự kiến sẽ cần phải huy động nhiều vốn hơn trong vài năm tới để tiếp tục duy trì tăng trưởng tín dụng. 

Cách xử lý vấn đề này sẽ quyết định sức khỏe kinh tế của Trung Quốc. 

Và với 267 nghìn tỷ nhân dân tệ (39,4 nghìn tỷ USD) tổng tài sản và có 4 ngân hàng lớn nhất thế giới, hệ thống tài chính của Trung Quốc không hoạt động một cách riêng lẻ. Bất cứ điều gì xảy ra sẽ có tác động đến kinh tế toàn cầu.

Theo Nomura Holdings Inc, một số ngân hàng lớn của Trung Quốc đã hoặc có kế hoạch tăng 343 tỷ nhân dân tệ. Tuy nhiên, con số này là thấp hơn rất nhiều so với ước tính của UBS Group AG - cơ quan này nhận định các ngân hàng phải cần thêm từ 1 nghìn tỷ đến 3 nghìn tỷ nhân dân tệ, tùy thuộc vào mức độ an toàn vốn mục tiêu. Bởi việc các ngân hàng nước này còn phải đáp ứng các yêu cầu của Basel III trong thời gian tới.

Kể từ đầu năm 2016, khi dư nợ cho vay tại Trung Quốc tăng 41%, tiền gửi chỉ tăng 29% so với cùng kỳ, điều đó đặt các bảng cân đối dưới sự căng thẳng ngày càng tăng. Năm 2018, tỷ lệ an toàn vốn được cải thiện lên 13,8% trong năm 2018 từ mức 13,4% hai năm trước đó. Nhưng thực tế, con số này chỉ đạt được trên số liệu của kế toán.

Nền kinh tế Trung Quốc đang phát triển chậm lại, Bắc Kinh đã dựa vào các ngân hàng để giảm việc xây dựng "tài sản trong bóng tối" và tiếp tục cho vay để thúc đẩy tăng trưởng phụ thuộc vào đầu tư.

Với các khoản vay mới vượt 20% tiền gửi trong năm 2018 và xu hướng tương tự dự kiến ​​trong năm nay, vốn đang ngày càng bị hạn chế. Hầu hết các yêu cầu dự trữ của mọi ngân hàng trong năm 2018 đã khớp với một khoản hoàn trả đáng kể cho Ngân hàng Trung ương. Nói cách khác, các ngân hàng đang tự vay để hoàn trả cho Ngân hàng Trung ương.

Các ngân hàng chỉ đơn giản là không có khả năng tiếp tục cho vay nhiều như họ làm mà không cần thêm vốn.

Các ngân hàng và cơ quan quản lý Trung Quốc đang cần phải thiết lập một kế hoạch gây quỹ. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc PBoC đã công bố các biện pháp giúp các ngân hàng tăng vốn bằng cách phát hành trái phiếu vĩnh viễn.

Cho dù các quan chức xem xét trái phiếu chuyển đổi hoặc ưu đãi thứ cấp thì họ cần phải đẩy nhanh việc phê duyệt và khuyến khích các công ty giải quyết các điểm yếu trong bảng cân đối kế toán của họ kịp thời.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.504 26.349 27.824 28.270 214,53 224,49
BIDV 23.145 23.265 25.505 26.232 27.823 28.303 215,02 220,49
VietinBank 23.135 23.265 25.492 26.287 27.766 28.406 214,71 220,71
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.508 25.861 27.918 28.304 215,89 218,87
ACB 23.135 23.255 25.521 25.873 27.998 28.312 215,99 218,96
Sacombank 23.103 23.263 25.518 25.977 27.950 28.352 215,12 219,68
Techcombank 23.135 23.275 25.282 26.280 27.611 28.505 214,47 221,74
LienVietPostBank 23.140 23.260 25.469 26.943 27.981 28.405 216,19 220,21
DongA Bank 23.230 23.320 25.980 26.220 28.070 29.350 214,60 220,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.100
41.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.100
41.450
Vàng SJC 5c
41.100
41.470
Vàng nhẫn 9999
41.100
41.600
Vàng nữ trang 9999
40.650
41.450