12:25 | 25/04/2019

Cần chuẩn bị một phần vốn tối thiểu để hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài

“Việt Nam vẫn có thể thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) bình quân khoảng 20-25 tỷ USD/năm từ nay đến cuối 2025”. Đó là nhận định của TS. Phan Hữu Thắng (ảnh dưới), nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam tại “Diễn đàn Bất động sản công nghiệp Việt Nam” vừa diễn ra tại Hà Nội, khi bàn về các vấn đề liên quan đến FDI, cơ hội và thách thức, những rủi ro cần tránh và khuyến nghị cho Việt Nam…

BĐS công nghiệp còn nhiều dư địa phát triển
7 khuyến nghị với bất động sản công nghiệp

Nhận định về làn sóng đầu tư đã và đang còn tiếp tục đổ vào Việt Nam từ nay đến 2020 và 2025, ông sẽ có các tóm lược ngắn gọn nào?

TS. Pham Hữu Thắng

Nói đầy đủ cần phải phân tích sâu hơn bối cảnh trong nước và quốc tế trong giai đoạn này, có thể căn cứ vào 1 số thực tế sau đây: Thực tế thu  hút ĐTNN thời gian qua 3 năm gần đây và quý I/2019; Đánh giá về môi trường đầu tư Việt Nam của các Tổ chức quốc tế có uy tín; Và căn cứ vào sự ổn định chính trị, kinh tế - xã hội của Việt Nam trong nhiều năm qua và đến nay.

Xét theo các tiêu chí đó, có thể nhận thấy, về môi trường đầu tư của Việt Nam theo đánh giá của các tổ chức có uy tín quốc tế thì: Ngân hàng Thế giới (WB) trong xếp hạng môi trường kinh doanh (chỉ số Doing Business) đã xếp hạng của Việt Nam tăng 13 bậc so với năm 2016 từ 82 lên 69/190 nền kinh tế. Hội nghị Thương mại và phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCTAD) trong báo cáo đầu tư quốc tế 2017 cũng đã đưa ra đánh giá Việt Nam thuộc nhóm 12 nước  tiềm năng nhất cho hoạt động ĐTNN giai đoạn  2017 - 2019 .

Đặc biệt, thu hút FDI trong 3 năm 2016 – 2018, vốn thực hiện đã đạt 52,4 tỷ USD, bình quân trên 15 tỷ USD/năm. Đây là số vốn thực tế mà hàng năm Việt Nam thu hút được trong nhiều năm vừa qua. Số vốn này đều tăng trưởng  trên 10% đến 20% (năm sau cao hơn  năm trước đó). Số vốn thực hiện trong 3 năm này bằng 27,3% số vốn thực hiện của cả 30 năm vừa qua.

Quý I/2019 vốn thực hiện cũng đạt 4,12 tỷ USD, tăng 6,2% so cùng kỳ. Có thể nói, các con số về vốn thực hiện rất ấn tượng, với xu hướng này, dự báo vốn thực hiện năm 2020 sẽ ở mức trên dưới 20 tỷ USD/năm. Đến năm 2025 sẽ đạt mức 25 tỷ USD/năm, do năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế  thông qua năng lực của cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, tác động của khoa học - công nghệ, sự tiến bộ của công tác quản lý nhà nước,... tất cả sẽ có tiến bộ hơn so với năng lực hấp thụ vốn tại thời điểm hiện nay.

Bên cạnh đó, vốn đăng ký 3 năm 2016-2018 cũng đạt khoảng 100 tỷ USD, bình quân trên 30 tỷ USD/năm, năm sau cao hơn năm trước. Quí I/2019 đạt 10,8 tỷ USD tăng 86,2% so với cùng kỳ năm trước. Với giai đoạn trước mắt 2019-2020, vốn đăng kí tiếp tục đà tăng trưởng hiện có. Tuy nhiên, sau đó đến giai đoạn 2021-2025, mức tăng trưởng có cao hơn được đà tăng trưởng hiện có như trong 3 năm và quí I vừa qua không, điều này còn phụ thuộc vào bối cảnh chính trị, kinh tế, thương mại khu vực và thế  giới.

Hiện rất khó dự báo liệu có hay không các đột biến lớn và liệu Việt Nam có thu hút được 1 số các dự án có qui mô lớn, tác động đến chất lượng tăng trưởng của ngành và khu vực dự án đến đầu tư hay không? Nhưng theo dự báo ở mức độ khiêm tốn, Việt Nam vẫn có thể thu hút bình quân khoảng 20-25 tỷ USD/năm từ nay đến cuối 2025.

TS. Phan Hữu Thắng (thứ 2 từ trái sang) đang cùng các chuyên gia trao đổi bên lề về những vấn đề liên quan tới FDI

Hiện nay có rất nhiều Nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN ) đã vào Việt Nam và triển khai mạnh các dự án xây dựng phát triển hạ tầng các KCN, theo ông các NĐTTN có thể học tập được họ những điểm gì để phát triển hiệu quả hơn?

Đúng là ngay từ những năm đầu tiên mở cửa thu hút FDI từ những năm 90 cuối thế kỉ trước, đã có những NĐTNN từ Nhật bản (như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN NOMURA ở Hải Phòng), từ Singapore (như  KCN VSIP tại Bình Dương), từ Đài Loan (như  KCN ở TP HCM ),… và sau đó có rất nhiều các NĐTNN khác đến VN đầu tư  xây dựng hạ tầng các KCN để kinh doanh cho thuê cơ sở hạ tầng cho các nhà đầu tư thứ cấp. Đến nay hầu  hết các NĐTNN đều thành công trong đầu tư – kinh doanh hạ tầng KCN của họ.

Cụ thể trong tổng số khoảng  326 KCN hiện có, có khoảng 100 KCN đã lấp đầy hoặc đạt đến 90% diện tích đất được cấp, 100 các KCN khác cũng đã lấp đầy được đến 50-60% diện tích đất, chỉ còn lại khoảng 100 KCN mới đạt được khoảng 30-40% diện tích đất. Các NĐTNN đầu tư vào hạ tầng KCN đều nằm  trong số các KCN đã có  tỉ lệ lấp đầy cao, như  VSIP  đến nay đã có  thêm nhiều các KCN khác trong cả nước.

Để các NĐTNN đạt được những thành công nói trên, theo tôi trước hết là ở tầm nhìn xa và khả năng đánh giá đúng thị trường của họ để từ đó quyết định đầu tư dựa vào hiệu quả tính toán cho từng KCN sẽ đầu tư chứ không phải chạy theo phong trào (địa phương này có thì địa địa phương cũng phải có…) như vẫn thường thấy ở Việt Nam. Nguyên nhân thứ hai là ở khâu lựa chọn địa bàn, địa điểm đầu tư phù hợp có thị trường, thuận lợi cho sản xuất. Tiếp đến là việc xây dựng hạ tầng cơ sở KCN có chất lượng cao, kèm theo các dịch vụ tiện ích cần thiết khác phục vụ cho việc sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp sản xuất trong KCN, bao gồm cả các dịch vụ tiện ích xã hội liên quan; Có chương trình xúc tiến đầu tư bài bản và quản trị tốt quá trình vận hành KCN.

Đó là những kinh nghiệm mà theo tôi, các NĐTNN cần nghiên cứu áp dụng vào điều kiện dự án cụ thể của mình.

TS. Phan Hữu Thắng (đứng giữa) đang thuyết trình về giải pháp khai thông dòng chảy đầu tư từ nước ngoài vào các KCN VN tại phiên thảo luận 2 của Diễn đàn BĐS VN

Cụm từ “Năng lực quốc tế - lợi thế địa phương” nếu được hiện thực hóa tối đa thì Việt Nam cũng như các NĐTNN cần làm gì, theo ông?

Trước hết cần phải biết lựa chọn cho được đúng các NĐTNN  có đủ các tiêu chí mà chúng ta cần và họ đáp ứng  được. Đó là sự chân thành, trung thực, thiện chí với Việt Nam, vào Việt Nam với mục đích là để cùng với Việt Nam, các doanh nghiệp VN làm ăn có lãi, cùng phát triển, làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước. Bên cạnh đó họ còn phải là các NĐTNN có tiềm năng về vốn công nghệ, kinh nghiệm quản lý…

Còn đối với VN, cụ thể là các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam thì cần: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp chính sách liên quan đến đầu tư và doanh nghiệp; sớm xóa bỏ sự chồng chéo giữa các Bộ Luật theo hướng tạo sự rõ ràng, minh bạchdễ hiểu, dễ thực hiện hơn; Có qui hoạch phát triển KT-XH trên cơ sở sử dụng nguồn vốn ĐTNN gắn với qui hoach tổng thể phát triển KT-XH đất nước trong từng thời kỳ, trong đó xác định rõ loại dự án, đối tác đầu tư cần lựa chọn để định hướng thực hiện cho các địa phương; Tổ chức thực hiện tốt và giám sát chặt chẽ việc thực hiện, thực thi luật pháp và qui hoạch phát triển KT-XH sử dụng nguồn vốn ĐTNN.

Đối với các NĐTTN, cần: trung thực và thiện chí trong hợp tác; chuẩn  bị kỹ các khả năng hiện có để đầu tư cùng các NĐTNN, đặc biệt các vấn đề về đất, mặt bằng, cơ sở vật chất khác đưa vào hợp tác, nhân sự quản trị nội bộ và nguồn lưc người lao động cần thiết khi liên doanh, liên kết. Cùng với đó là cần chuẩn bị một phần vốn tối thiểu để hợp tác với  NĐTNN.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.300 25.832 26.688 28.723 29.183 212,25 222,10
BIDV 23.180 23.300 25.838 26.582 28.706 29.191 212,63 218,02
VietinBank 23.162 23.292 25.841 26.636 28.674 29.314 212,77 219,27
Agribank 23.185 23.280 25.821 26.217 28.726 29.201 212,65 216,53
Eximbank 23.170 23.280 25.848 26.205 28.823 29.221 213,80 216,76
ACB 23.165 23.285 25.853 26.209 28.840 29.164 213,62 216,56
Sacombank 23.132 23.290 25.855 26.312 28.791 29.201 212,83 217,37
Techcombank 23.160 23.300 25.615 26.475 28.492 29.362 212,08 219,36
LienVietPostBank 23.170 23.290 25.792 26.269 28.862 29.291 213,35 217,29
DongA Bank 23.190 23.280 25.860 26.200 28.800 29.200 210,00 216,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.470
39.740
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.470
39.720
Vàng SJC 5c
39.470
39.740
Vàng nhẫn 9999
39.370
39.820
Vàng nữ trang 9999
39.020
39.820