08:57 | 13/03/2017

Cần đưa cuộc sống vào chính sách

Sau suốt 30 năm nỗ lực với mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hiện đại, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đề ra các chủ trương, chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp. Nhưng Việt Nam hiện đang đối diện với nguy cơ hậu công nghiệp hóa quá sớm và công nghiệp hóa thu hút ít lao động.

Khai khoáng giảm mạnh kéo tụt sản xuất công nghiệp
Hội nghị chuyên đề về Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4

Nỗi lo nguy cơ hậu công nghiệp hóa

Rất thẳng thắng và mạnh mẽ, tại Hội thảo quốc tế “Chính sách công nghiệp quốc gia của Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2035”, tổ chức ngày 10/3/2017, TSKH. Nguyễn Văn Bình - Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Ban Kinh tế trung ương, chỉ ra rằng “nhận thức và tầm nhìn của các cấp ủy, chính quyền, và cộng đồng về chính sách công nghiệp quốc gia chưa đầy đủ. Có nơi còn bị ảnh hưởng bởi lợi ích cục bộ và tư duy nhiệm kỳ, lợi ích nhóm, quan hệ thân hữu”.

Công ty TNHH một thành viên Lọc hóa dầu Bình Sơn - biểu tượng của nền công nghiệp Việt Nam

Việc tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng về chính sách công nghiệp quốc gia ở các cấp, các ngành và địa phương còn thụ động, chậm trễ, không rõ trách nhiệm và quyền hạn. Quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực công nghiệp nhiều lúc còn buông lỏng, còn nhiều bất cập trong phân công, phân cấp quản lý, và phân định vai trò của Trung ương và địa phương trong phát triển công nghiệp còn nhiều bất hợp lý.

Ông Nguyễn Văn Bình chỉ ra rằng, Việt Nam đang đối diện với nguy cơ hậu công nghiệp hóa quá sớm và công nghiệp hóa thu hút ít lao động. Việt Nam đã không tận dụng tốt được lợi thế đang trong giai đoạn dân số vàng, và là nước đi sau trong công nghiệp hóa.

Và hiện trạng công nghiệp Việt Nam là: trình độ phát triển thấp, thiếu bền vững; năng lực cạnh tranh thấp, năng suất lao động thấp; tăng trưởng sản xuất vẫn nhờ vào mở rộng quy mô những ngành sử dụng nhiều lao động, còn ít các ngành công nghiệp công nghệ cao. Khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế. Nền công nghiệp quá phụ thuộc vào nước ngoài, trong khi sự liên kết quốc tế của Việt Nam còn thiếu chặt chẽ, tỷ lệ nội địa hóa của đầu tư trực tiếp nước ngoài còn thấp…

Ông Bình cũng thẳng thắn cho rằng, những yếu kém, hạn chế nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chính. Tư duy và cách tiếp cận trong xây dựng chính sách công nghiệp quốc gia chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Chính sách công nghiệp chưa đánh giá đúng về tầm quan trọng của yếu tố nhân lực, khoa học và công nghệ trong phát triển công nghiệp.

Bên cạnh đó, còn thiếu các chính sách cụ thể, thiếu sự ưu tiên về nguồn lực để theo đuổi một cách nhất quán và quyết liệt các mục tiêu đã đề ra. Quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách công nghiệp quốc gia chưa tôn trọng đầy đủ các quy luật kinh tế thị trường, chưa tham vấn đầy đủ các đối tượng chịu ảnh hưởng của chính sách.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải nói rằng “chúng ta không thiếu chính sách, nhưng bên cạnh một số ít chính sách có hiệu quả, có tác động tạo sự đột phá, thì còn nhiều chính sách được ban hành còn chưa kịp thời và ít tác dụng”.

Nguyên Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm thì chốt lại: “Việt Nam đang lạm phát chính sách phát triển công nghiệp, nhưng không xác định được trọng tâm, trọng điểm phát triển”. Thực trạng như ông Khiêm nói khiến cho chính sách và sự phát triển công nghiệp như quả mít rất nhiều mũi nhọn như nhau nên không biết được đâu là ưu tiên, đâu là đột phá.

Chính sách phải linh hoạt và phù hợp

GS. Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Nhật Bản) tỏ ra tiếc nuối khi Việt Nam đã có đủ lợi thế của một nước đi sau và đang ở giai đoạn dân số vàng như Hàn Quốc, Nhật Bản… nhưng lại không tận dụng được để bứt lên như Nhật Bản, Hàn Quốc.

Theo ông, Việt Nam phải đẩy mạnh công nghiệp hóa vừa theo diện rộng vừa tiến sâu vào chuỗi giá trị của sản phẩm công nghiệp, và cần có chính sách khôn ngoan chọn lựa FDI và nuôi dưỡng các doanh nhân trong nước, tạo điều kiện cho DN Việt Nam kết nối có hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu và từng bước tạo lập được thương hiệu riêng.

GS. Thọ cho rằng, chính sách chỉ có giá trị trong một thời gian nhất định, tình hình thay đổi thì chiến lược, chính sách cũng phải khác, nhưng Việt Nam chậm đưa ra các chính sách thích hợp và thiếu nỗ lực cải cách hệ thống quản lý hành chính, thiếu cán bộ quản lý có năng lực và trách nhiệm…

Giáo sư David Dapice (Đại học Havard, Mỹ) gợi mở, đến năm 2025 Việt Nam cần đột phá để tăng năng suất và gia tăng giá trị sản xuất. Trước hết là cần phải giảm các khoản chi, nhất là các chi phí không chính thức. Điều này còn là vì sự ổn định xã hội và chính trị.

 Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng chính sách phát triển công nghiệp của các quốc gia trên thế giới có nhiều thành công như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan cho thấy, quá trình phát triển công nghiệp của các nước đều theo các giai đoạn tuần tự, phát triển những ngành có lợi thế cạnh tranh, trong đó ngành cơ khí chính xác có vai trò quan trọng đối với mọi nền công nghiệp.

Nhiều chính sách công nghiệp thành công đều tạo ra một môi trường thuận lợi để thúc đẩy các ngành công nghiệp phát triển theo định hướng, theo cơ chế thị trường trên cơ sở phân bố các nguồn lực hợp lý, dựa trên các trụ cột khoa học, công nghệ và nhân lực, với sự tham gia của các thành phần kinh tế.

Nhà nước tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng hỗ trợ cần thiết cho công nghiệp tăng trưởng nhanh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia nhập thị trường, đẩy mạnh cạnh tranh, đồng thời hạn chế những khiếm khuyết do cơ chế thị trường đem lại.

Theo ông Đỗ Thắng Hải, công nghiệp Việt Nam cần một hệ thống chính sách đồng bộ và hiệu quả, và cần đổi mới tư duy xây dựng chính sách. Thay vì cách làm “đưa chính sách vào cuộc sống”, bây giờ cần “đưa cuộc sống vào chính sách”.

Tức là, trên cơ sở các định hướng và mục tiêu phát triển trong từng giai đoạn, phải căn cứ những đòi hỏi của cuộc sống để ban hành những chính sách phù hợp. Các ưu đãi đề xuất cần phải được cân nhắc kỹ, căn cứ vào nguồn lực, để sau khi ban hành, chính sách có thể triển khai thực hiện được.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.220
41.490
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.220
41.470
Vàng SJC 5c
41.220
41.490
Vàng nhẫn 9999
41.180
41.630
Vàng nữ trang 9999
40.670
41.470