15:42 | 14/03/2019

Cần “Khoán Mười” một lần nữa

30 năm trước, từ một nước thiếu đói, vì sao bất ngờ Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo? Đó chính là từ Khoán Mười - Nghị quyết số 10 NQ/T.Ư về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, quyết sách tạo ra những chuyển biến căn bản và sâu rộng trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta...

Agribank sẵn sàng đáp ứng vốn cho lúa gạo
Tiếp tục đẩy mạnh cho vay sản xuất, tiêu thụ lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long

Năm 1988, Việt Nam phải nhập khẩu 199,5 nghìn tấn lương thực. Bất ngờ năm 1989, nước ta xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo và liên tục đẩy mạnh xuất khẩu trong các năm sau đó. Mười năm sau, năm 1999, xuất khẩu gạo nước ta đạt 4,5 triệu tấn, đứng thứ hai thế giới. Đến năm năm 2012 xuất khẩu gạo Việt Nam đạt kỷ lục hơn 8 triệu tấn. Và gần đây nhất, năm 2018 chúng ta đã xuất khẩu trên 6 triệu tấn, thu về 3,03 tỷ USD.

Ảnh minh họa

Những năm gần đây Việt Nam giữ vững vị trí thứ ba thế giới về xuất khẩu gạo, sau Ấn Độ và Thái Lan. Hiện Việt Nam chiếm khoảng 15% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn thế giới. Gạo Việt Nam đã có mặt ở hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ, từ những  khu vực có truyền thống ăn khoai tây, bột mì là chính như châu Mỹ, Trung Đông, EU… đến những thị trường rất coi trọng chất lượng gạo như Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông (Trung Quốc).

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được các chuyên gia trong và ngoài nước đánh giá là vựa lúa quan trọng và tốt nhất so với thế giới. Vụ Đông - Xuân 2018-2019, nông dân ĐBSCL xuống giống khoảng 1,6 triệu ha, năng suất dự kiến đạt khoảng 11 triệu tấn.

Tuy nhiên, từ sau tết Nguyên đán, giá lúa thương lái mua tại ruộng từ 4.500 - 5.800 đồng/kg (tùy theo giống lúa) đã giảm còn 4.200-4.400 đồng/kg. Trước tình hình tiêu thụ lúa gạo khó khăn, Thủ tướng đã yêu cầu Bộ Tài chính phải sớm mua dự trữ 200.000 tấn gạo và 80.000 tấn thóc. Và cũng như nhiều năm trước, lần này ngân hàng tiếp tục là ngành chủ lực trong hỗ trợ, đồng hành cùng bà con nông dân.

Tại Hội nghị “Thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ lúa gạo ĐBSCL” tổ chức tại Đồng Tháp cuối tháng 2 vừa qua, Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng khẳng định: ngành Ngân hàng cam kết sẵn sàng đáp ứng đủ vốn của người dân, DN trong quá trình sản xuất, thu mua, chế biến, tiêu thụ lúa gạo với lãi suất và thời hạn cho vay phù hợp... Sau Hội nghị này, ngày 4/3/2019, NHNN ban hành tiếp văn bản số 1289/NHNN-TD về việc tiếp tục đẩy mạnh cho vay thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ lúa gạo khu vực ĐBSCL.

Thống đốc NHNN yêu cầu các NHTM tiếp tục đẩy mạnh chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, chú trọng cho vay các mô hình chuỗi liên kết lúa, gạo từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. Các NHTM phải cân đối, ưu tiên bố trí đủ vốn cho vay trên tinh thần hỗ trợ để DN có thêm nguồn vốn kịp thời thu mua tạm trữ, chế biến, xuất khẩu lúa, gạo vụ Đông - Xuân 2019, góp phần ổn định giá bán hợp lý cho nông dân; Trên cơ sở khả năng tài chính, xem xét giảm lãi suất cho vay hỗ trợ DN thu mua tạm trữ lúa, gạo vụ Đông - Xuân 2019.

Văn bản của NHNN còn nhấn mạnh: lãnh đạo các NHTM và giám đốc NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố khu vực ĐBSCL khẩn trương triển khai thực hiện, chịu trách nhiệm trước Thống đốc NHNN về việc DN đủ điều kiện vay và cần được hỗ trợ vay vốn mà không tiếp cận được vốn vay để thu mua lúa, gạo vụ Đông – Xuân 2019 tại khu vực ĐBSCL…

Hạt gạo Việt Nam đã đi khắp năm châu bốn bể. Cơ cấu gạo xuất khẩu đã chuyển dịch theo hướng tăng phân khúc gạo chất lượng cao, giảm gạo chất lượng trung bình và thấp. Song nhìn chung xuất khẩu gạo vẫn thiên về bề rộng, chưa chú trọng cải thiện chất lượng, đảm bảo truy xuất nguồn gốc, nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả xuất khẩu...

Hiện giá gạo xuất khẩu của Việt Nam khoảng 325 – 342 USD/tấn đối với gạo 5% tấm và 25% tấm, thấp hơn so với giá xuất khẩu gạo của Thái Lan 40 – 50 USD/tấn. Chúng ta có thể tăng thêm giá trị gia tăng của lúa gạo, xóa quy luật “được mùa mất giá”?

Với vị trí địa lý và khí hậu thổ nhưỡng, Việt Nam có nhiều lợi thế trong phát triển nông nghiệp. Những năm gần đây nhiều quốc gia trên thế giới bắt đầu đưa an ninh lương thực lên vấn đề hàng đầu khi nguy cơ thiếu đói do chiến tranh, hạn hán, biến đổi khí hậu... đang ngày càng gia tăng. Do đó gia tăng xuất khẩu gạo cả về sản lượng và giá trị vẫn là hướng đi đúng. Tuy nhiên ngoài áp lực cạnh tranh với những nước xuất khẩu gạo lớn khác, chúng ta còn phải đối mặt với biến đổi khí hậu, với yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng của thị trường nước nhập khẩu.

30 năm trước, từ một nước thiếu đói, vì sao bất ngờ Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo? Đó chính là từ Khoán Mười - Nghị quyết số 10 NQ/T.Ư về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, quyết sách tạo ra những chuyển biến căn bản và sâu rộng trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta. Để giải quyết được những vấn đề trên, có lẽ giờ là lúc ngành sản xuất, xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam cần “Khoán Mười” một lần nữa.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700