16:30 | 05/02/2018

Cảnh giác tiêu dùng “lách” chứng khoán, bất động sản

Chuyên gia khuyến nghị, các ngân hàng nên hạn chế cho vay BĐS bởi không thể để lặp lại bài học cũ như thời điểm năm 2006 - 2008 khi tín dụng BĐS tăng trưởng quá nóng.

Phải rà soát lại cho vay tiêu dùng
Giáp Tết - ưu đãi cho vay cá nhân

Thống đốc NHNN vừa có văn bản yêu cầu các TCTD, chi nhánh  ngân hàng nước ngoài hạn chế mức độ tập trung tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản (BĐS), xây dựng; cân đối nguồn vốn, sử dụng vốn để cho vay trung và dài hạn, đảm bảo khả năng thanh khoản. Đồng thời, thường xuyên rà soát, đánh giá và theo dõi tiến độ của các dự án BĐS, năng lực tài chính của khách hàng, khoản tín dụng và tài sản bảo đảm (TSBĐ) để có biện pháp xử lý thích hợp. Đặc biệt, các ngân hàng phải giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn cho vay tiêu dùng nhưng thực chất là để đầu tư, kinh doanh BĐS, chứng khoán.

 
Hiệp hội Ngân hàng dự báo vay tiêu dùng có thể vượt mốc 10% GDP vào năm 2020

Đây không phải lần đầu tiên NHNN đưa ra những cảnh báo các TCTD kiểm soát dòng tiền chảy vào lĩnh vực BĐS, chứng khoán. Điều này cho thấy nhà điều hành thực sự rất chú trọng tới chất lượng phân bổ vốn của các TCTD trong từng lĩnh vực.

Thời gian qua, không ít lo ngại cho rằng tín dụng BĐS đang tiềm ẩn cao trong tín dụng tiêu dùng. Theo số liệu của Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia, năm 2017 tỷ trọng tín dụng đổ vào hoạt động kinh doanh BĐS chiếm khoảng 5,9% tổng tín dụng. Nếu tính cả tín dụng trong lĩnh vực xây dựng thì con số này là 15,8%. Tín dụng tiêu dùng năm 2017 tăng 65%, trong đó cho vay phục vụ mục đích mua nhà, sửa chữa nhà để ở chiếm 53,8%. Nhìn vào những con số này, thật khó có thể xác định chính xác nhất nguồn vốn đổ vào thị trường BĐS.

Trao đổi với một chuyên gia kinh tế, vị này cho hay: Điểm cần lưu ý tại đây là các ngân hàng không thực hiện sai. Lấy ví dụ như một khách hàng tới vay ngân hàng 10 tỷ đồng để mua một BĐS, nhưng không ở mà cho thuê hoặc trong tương lai sẽ bán đi. Điều này có nghĩa là kinh doanh BĐS, nên đáng lý ra phải được xét vào tín dụng BĐS. Nhưng theo quy định hiện hành nếu khách vay không dùng thu nhập từ kinh doanh BĐS như miếng đất, căn hộ đó để trả nợ, mà lấy từ nguồn thu khác thì món cho vay đó không phải là kinh doanh BĐS mà được xem là tiêu dùng. Đó là điểm chưa rõ ràng, liên quan tới sự phân loại ngay từ đầu, dẫn tới khó quản lý.

Việc xếp các khoản vay mua, xây hay sửa nhà vào cho vay tiêu dùng cũng phần nào giúp ngân hàng tránh được việc trích lập dự phòng rủi ro cao khi hệ số rủi ro với cho vay BĐS hiện đã lên 200% từ 1/7/2017, gấp đôi cho vay thương mại thông thường.

Cũng theo vị này, nếu phân loại ngay từ đầu như vậy thì cũng lý giải lý do vì sao tín dụng BĐS luôn thấp. “Thành ra việc đầu tiên trong kiểm soát cho vay BĐS là phải có sự phân loại chính xác, nếu tiền đó để mua BĐS và thế chấp là BĐS thì món vay đó là BĐS. Đi cùng với đó cần có con số chính xác để các cơ quan quản lý có thể theo dõi chặt chẽ hơn”.

Cần phải nói thêm rằng, trong Luật Kinh doanh BĐS 2014, khái niệm BĐS gồm 3 loại: quyền sử dụng đất, công trình xây dựng trên đất (nhà ở), các tài sản gắn liền với nhà. Như vậy thì tín dụng trong xây dựng vẫn được gọi là tín dụng BĐS và cho vay mua sắm trang thiết bị, vật tư trong nhà vốn được coi là vay tiêu dùng thì cũng phải được tính vào tín dụng BĐS. Thậm chí xây dựng cũng là một nội dung trong BĐS. Hiện đang chưa rõ ràng về khái niệm BĐS trong Luật Kinh doanh BĐS cũng như pháp luật của ngân hàng. Phải làm rõ được điểm này mới giúp ích cho cách thức điều hành quản lý, khi số liệu minh bạch thì việc thanh tra giám sát cũng thuận lợi, dễ dàng hơn.

Chuyên gia khuyến nghị, các ngân hàng nên hạn chế cho vay BĐS bởi không thể để lặp lại bài học cũ như thời điểm năm 2006 - 2008 khi tín dụng BĐS tăng trưởng quá nóng. Vì khi thị trường BĐS đã nóng lên, nhà nhà người người đổ xô mua BĐS thì chuyện bùng lên thành bong bóng là thực tế rất dễ xảy ra và nợ xấu cũng theo đó mà tăng lên rất nhiều.

Thêm nữa, chu kỳ của BĐS có lên có xuống, khi đã đạt được một mức đỉnh nhất định thì chắc chắn tới một lúc nào đó sẽ đi xuống. “Nếu ngân hàng tập trung quá nhiều tín dụng cho BĐS, cung có quá nhiều mà tiêu thụ chỉ có mức độ thì thị trường sẽ suy thoái. Bởi vậy, hạn chế tập trung cho vay BĐS, chứng khoán như yêu cầu của NHNN là điều vô cùng quan trọng. NHNN nhìn thấy rất rõ rủi ro đó và cần phải có sự hạn chế không những ở mức độ kêu gọi các ngân hàng phải tính toán rủi ro cho chặt chẽ, mà NHNN cần phải có những quy định cụ thể hơn bắt đầu từ việc phân loại”, chuyên gia nhấn mạnh.

Hạn chế tín dụng vào một số lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như BĐS, chứng khoán theo yêu cầu của nhà điều hành cũng không có nghĩa là cứ tín dụng đổ vào những lĩnh vực này là rủi ro hết. Bởi nếu đáp ứng nhu cầu thực sự của người dân ở một số phân khúc cụ thể thì cũng nên khuyến khích. Còn phân khúc BĐS cao cấp, mang tính đầu cơ cao thì mới là điểm cần lưu tâm.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 22.890 26.292 26.606 30.763 30.239 203,92 209,28
BIDV 22.820 22.890 26.297 26.599 29.775 30.224 205,26 208,29
VietinBank 22.818 22.898 26.215 26.593 29.697 30.257 205,63 209,03
Agribank 22.810 22.885 26.372 26.692 29.993 30.414 205,18 208,37
Eximbank 22.810 22.900 26.274 26.616 29.869 30.258 206,08 208,76
ACB 22.830 22.900 26.287 26.616 29.959 30.258 206,09 208,67
Sacombank 22.930 22.913 26.322 26.682 29.945 30.304 206,45 209,50
Techcombank 22.790 22.890 26.027 26.729 29.531 30.350 204,51 209,84
LienVietPostBank 22.790 22.880 26.301 26.747 30.078 30.486 205,38 208,99
DongA Bank 22.830 22.900 26.310 26.600 30.880 30.240 204,80 208,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.720
36.900
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.720
36.900
Vàng SJC 5c
36.720
36.920
Vàng nhẫn 9999
35.850
36.250
Vàng nữ trang 9999
35.500
36.200