16:30 | 06/05/2019

Cập nhật thị trường tiền tệ tuần từ 2-3/5/2019

Bộ phận Phân tích và Tư vấn đầu tư khách hàng cá nhân thuộc Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) vừa phát hành báo cáo cập nhật thị trường tiền tệ tuần từ 2-3/5/2019 với một số điểm đáng chú ý.

Trên thị trường tiền tệ, lãi suất trên liên ngân hàng hồi phục sau tuần sụt giảm mạnh. Thanh khoản các NHTM đột ngột dư thừa trong tuần cuối cùng của tháng 4 đã khiến lãi suất trên liên ngân hàng giảm mạnh về mức 2,98%/năm với kỳ hạn qua đêm, là mức thấp nhất 6 tháng gần đây.

Tuy nhiên, sau đợt nghỉ lễ, lãi suất qua đêm đã tăng trở về mức 3,58%/năm dù NHNN hoạt động khá hạn chế trên thị trường mở với 209 tỷ đồng mua kỳ hạn 7 ngày trên OMO và không phát sinh giao dịch tín phiếu.

Diễn biến lãi suất trên liên ngân hàng những ngày vừa qua liên quan nhiều đến dòng tiền từ Kho bạc Nhà nước chuyển vào hệ thống ngân hàng. Trong tuần cuối tháng 4, một lượng tiền tương đối lớn từ Kho bạc Nhà nước chuyển vào hệ thống ngân hàng trong khi các NHTM lại đang tăng cường dự trữ tiền đồng. Điều này đã khiến các NHTM phải giải phóng nhanh tiền đồng và đẩy lãi suất trên liên ngân hàng giảm mạnh.

Sau khi giải phóng xong lượng tiền này, đồng thời phát sinh các dòng tiền đi của Kho bạc Nhà nước, lãi suất trên liên ngân hàng nhanh chóng trở về mặt bằng cũ. SSI cho rằng lãi suất trên liên ngân hàng sẽ được duy trì ổn định ở mức 3,5-4%/năm để đảm bảo chênh lệch lãi suất VND-USD ở mức 1-1,5%/năm trong bối cảnh áp lực tỷ giá từ diễn biến quốc tế đang gia tăng.

Trên thị trường 1, một số ngân hàng điều chỉnh giảm 20-30 điểm cơ bản với kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng, về mức 4,1-5,5% trong khi duy trình mức 5,5-7,5% với kỳ hạn 6 đến dưới 12 tháng và 6,4-8%/năm với kỳ hạn 12,13 tháng. Ngoài ra, một số ngân hàng áp dụng chương trình ngắn nhân dịp 30/4 và 1/5 với lãi suất huy động tốt nhất lên tới 8,5%/năm cho kỳ hạn 13 tháng.

Theo SSI, lãi suất huy động vẫn sẽ được giữ ở mức hiện tại vì: đảm bảo nguồn thực hiện mục tiêu tăng trưởng tín dụng; việc đẩy mạnh cho vay khách hàng cá nhân với lãi suất tốt hơn sẽ là cơ sở để các NHTM duy trì mặt bằng lãi suất huy động hiện tại; nhu cầu gia tăng số dư huy động để đáp ứng lộ trình tiếp tục giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 40% hiện nay xuống 30%.

Nguồn: NHNN, Bloomberg, SSI tổng hợp

Trên thị trường ngoại hối, áp lực với tỷ giá USD/VND gia tăng. Thông tin tăng trưởng GDP quý I/2019 của Mỹ vượt xa dự báo, lên mức 3,2% so với cùng kỳ, đã khiến đồng USD tăng giá mạnh, chỉ số DXY tăng vọt lên 98,2 vào 25/4/2019 sau đó hạ nhiệt dần và hiện ở mức 97,5, sau khi EUR hồi phục nhờ các thông tin về tăng trưởng và thất nghiệp khả quan hơn của châu Âu.

Diễn biến quốc tế cùng với sự thu hẹp đột ngột chênh lệch lãi suất VND-USD trên liên ngân hàng đã tác động mạnh đến tâm lý thị trường, khiến tỷ giá USD/VND bật tăng trên cả ngân hàng và thị trường tự do, mức tăng tương ứng là 70 đồng/USD và 115 đồng/USD.

Tuy nhiên, sau kỳ nghỉ lễ, chỉ số DXY giảm, chênh lệch VND-USD được khôi phục về mức trên 1% đã khiến thị trường bình ổn hơn, tỷ giá cũng điều chỉnh giảm 20 đồng/USD trên ngân hàng, hiện ở mức 23.210/23.310 đồng/USD và giảm 50 đồng/USD ở chiều mua vào, 45 đồng/USD ở chiều bán ra trên thị trường tự do, hiện ở mức 23.275/23.295 đồng/USD.

Khi mà các bên đều đang lạc quan về triển vọng một thỏa thuận Mỹ - Trung vào cuối tháng 5 thì Tổng thống Mỹ Donald Trump bất ngờ tuyên bố sẽ tăng thuế từ 10% lên 25% với 200 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc từ ngày 10/5 và dự kiến sẽ sớm áp thuế 25% lên 325 tỷ USD hàng hóa khác. Đồng CNY lập tức mất giá 0,8% so với USD, hiện ở mức 6.787 CNY/USD.

Áp lực đối với tỷ giá USD/VND đã gia tăng đáng kể so với giai đoạn quý I, bao gồm: áp lực từ diễn biến quốc tế, nguồn cung USD đã giảm bớt sau khi có khoảng 8 tỷ USD hút về dự trữ ngoại hối (tính từ đầu năm) và cán cân thương mại bớt thuận lợi. Vì thế, nhiều khả năng USD/VND sẽ giao dịch ở mặt bằng mới, dao động quanh mức 23.300 đồng/USD.

Mặc dù áp lực tỷ giá có gia tăng, vẫn có những cơ sở để chúng ta tin tưởng rằng tỷ giá USD/VND sẽ được kiểm soát tốt như: kinh nghiệm điều hành của Chính phủ và NHNN; dự trữ ngoại hối gia tăng đáng kể đã củng cố nguồn lực để NHNN bình ổn thị trường nếu có biến động mạnh; triển vọng gia tăng nguồn vốn FII từ những thương vụ bán vốn lớn; và Trung Quốc sẽ phải có biện pháp kiểm soát đồng nội tệ.

Nguồn: Bloomberg, SSI tổng hợp

Trên thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP), lãi suất TPCP đi ngang trên cả sơ cấp và thứ cấp. Trong tuần qua, Kho bạc Nhà nước gọi thầu 4.000 tỷ đồng với 4 kỳ hạn 5, 10, 15 và 30 năm. Mặc dù cả 4 kỳ hạn đều được phát hành nhưng chủ yếu vẫn là kỳ hạn 10 năm và 15 năm, kỳ hạn 5 năm và 30 năm chỉ có 100 tỷ đồng mỗi kỳ hạn được phát hành, tương ứng tỷ lệ trúng thầu/gọi thầu là 20%. Lãi suất trúng thầu cả 4 kỳ hạn không đổi so với phiên trúng thầu gần nhất.

Kho bạc Nhà nước đã công bố kế hoạch phát hành 80 nghìn tỷ đồng trong quý II/2019, tăng 15% so với lượng phát hành trong quý I và tương đương 30,8% kế hoạch phát hành cả năm 2019.

Tính từ đầu quý II/2019 đến nay, có 15.276 tỷ đồng TPCP được phát hành, tương đương 19% kế hoạch quý; tổng TPCP phát hành lũy kế từ đầu năm là 84.745 tỷ đồng, tương đương 32,6% kế hoạch năm 2019.

Lợi tức TPCP đi ngang trên thị trường thứ cấp, ở mức 3,17%; 3,54%; 3,87%; 4,73% và 5,08% với các kỳ hạn 1 năm, 3 năm, 5 năm, 10 năm và 15 năm.

Chỉ có 2 phiên giao dịch TPCP trong tuần với giá trị giao dịch bình quân là 8.990 tỷ đồng/phiên, giảm 14% so với tuần trước. Trong đó, khối lượng giao dịch outright chỉ chiếm 21% tổng khối lượng giao dịch, sụt giảm mạnh so với mức phổ biến 40-50%. Khối ngoại không phát sinh bất kỳ giao dịch nào trong tuần.

Nguồn: HNX, VBMA, Bloomberg, SSI tổng hợp

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.580 26.485 29.483 29.985 205,48 219,80
BIDV 23.145 23.265 25.654 26.405 29.550 30.112 207,71 214,54
VietinBank 23.136 23.266 25.577 26.412 29.450 30.090 210,59 216,59
Agribank 23.145 23.255 25.487 25.879 29.437 29.920 210,88 214,73
Eximbank 23.140 23.250 25.598 25.952 29.595 30.004 211,83 214,76
ACB 23.130 23.255 25.607 25.960 29.652 29.985 212,03 214,95
Sacombank 23.103 23.263 25.611 26.063 29.639 30.044 211,06 215,58
Techcombank 23.134 23.274 25.364 26.360 29.277 30.200 210,41 217,59
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.536 26.011 29.626 30.065 211,35 215,28
DongA Bank 23.160 23.250 25.620 25.940 29.590 29.990 208,40 214,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.480
41.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.480
41.750
Vàng SJC 5c
41.480
41.770
Vàng nhẫn 9999
41.470
41.920
Vàng nữ trang 9999
40.950
41.750