11:31 | 12/10/2017

Cập nhật thị trường toàn cầu sáng 12/10/2017

Chứng khoán châu Á tăng điểm sau khi chứng khoán Mỹ đạt mức cao kỷ lục, trong khi đồng USD duy trì đà giảm sau khi Biên bản cuộc họp tháng 9 của Fed cho thấy vẫn còn nhiều quan chức thận trọng về thời điểm tăng lãi suất trong tương lai.

Cổ phiếu Nhật tăng điểm, với chỉ số Nikkei 225 Stock Average ở mức cao nhất kể từ năm 1996, sau khi chỉ số S&P 500 đạt kỷ lục mới. Cổ phiếu cũng tăng tại Hàn Quốc, Úc và Hồng Kông. Trái phiếu Kho bạc đã ổn định trở lại sau khi giảm khi Biên bản cuộc họp tháng 9 của Fed được phát hành. Các nhà đầu tư vẫn hy vọng lãi suất sẽ tăng một lần nữa trong năm nay, với mức cược là khoảng 75% cơ hội. Đồng euro vẫn đang hướng tới tuần tăng giá mạnh do mối đe dọa trước mắt về sự tan vỡ của Tây Ban Nha dịu lại.

Theo Biên bản cuộc họp tháng 9, các quan chức Fed đã tranh luận về việc liệu các yếu tố khiến lạm phát thấp có tiếp tục tồn tại hay không, và một số nhà hoạch định chính sách đề nghị phải có bằng chứng mạnh mẽ về giá tăng trước khi hỗ trợ tăng lãi suất thứ ba trong năm nay.

Mặc dù thị trường vẫn nghiêng về hướng lãi suất sẽ được tăng thêm trong năm nay, song lộ trình lãi suất cho năm 2018 vẫn là vấn đề gây tranh cãi vì động thái giảm bảng tài sản của Fed và có thể là cả ECB có thể làm giảm thanh khoản của thị trường.
Một vấn đề cũng đang thu hút sự quan tâm là việc lựa chọn người ‘kế vị” bà Yellen. Tổng thống Mỹ Donald Trump tuần này sẽ gặp nhà kinh tế học John Taylor thuộc trường đại học Stanford, một trong những ứng cử viên cho chức vụ Chủ tịch Fed kế tiếp, theo ba người quen thuộc với vấn đề này.

Trong khi đó, Tổng thống Donald Trump cho biết kế hoạch thuế của ông sẽ đơn giản hóa mã số thuế và tiết kiệm tiền cho hàng triệu doanh nghiệp và gia đình Mỹ, khi ông nói chuyện với các tài xế xe tải ở Pennsylvania để phản biện lời chỉ trích đề xuất này.

Những thông tin đáng chú ý còn lại trong tuần:
Mùa báo cáo thu nhập sẽ bắt đầu bắt đầu cho các ngân hàng lớn của Mỹ như JPMorgan Chase & Co., Citigroup Inc., Bank of America Corp. và Wells Fargo & Co.
-  
Mùa bão đang diễn ra ở Đại Tây Dương có thể sẽ được phản ánh rõ nét trong dữ liệu về doanh số bán lẻ và giá tiêu dùng tại Mỹ.

Một số diễn biến chính trên thị trường:

Cổ phiếu:
Chỉ số Topix của Nhật tăng 0,4% vào lúc 12h45 ở Tokyo, chạm mức cao nhất kể từ tháng 7/2007. Chỉ số Nikkei 225 tăng 0,5%, thiết lập mức cao nhất kể từ tháng 11/1996.
Chỉ số S&P/ASX 200 của Úc tăng 0,2%; chỉ số Kospi của Hàn Quốc tăng 0,3%.
Chỉ số Hang Seng của Hồng Kông tăng 0,3% và chỉ số chính của Trung Quốc biến động.
Hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 ít thay đổi. Chỉ số cơ bản tăng 0,2% vào thứ Tư.
Chỉ số MSCI châu Á - Thái Bình Dương tăng 0,3%.

Tiền tệ:
- Chỉ số Bloomberg Dollar Spot tiếp tục giảm, mở rộng mức thua lỗ ngày thứ 5 liên tục.
Đồng yên tăng nhẹ lên 112,36 JPY/USD.
Đồng euro đang giao dịch ở mức 1,1875 USD, tăng hơn 1% trong tuần này.
Đồng lira Thổ Nhĩ Kỳ tăng 1,7%. Đại sứ Mỹ tại Thổ Nhĩ Kỳ nói rằng hai nước đang thảo luận việc chấm dứt đình chỉ thị thực giữa hai bên.

Trái phiếu:
Lợi suất trái phiếu 10 năm của Úc giảm 1 điểm cơ bản xuống 2,81%.
Lợi suất trái phiếu Kho bạc 10 năm của Mỹ đã mất 1 điểm cơ bản xuống 2,34%.
Lợi suất trái phiếu 10 năm của Tây Ban Nha giảm 6 điểm cơ bản xuống 1,64% trong phiên hôm thứ Tư.

Hàng hóa:
Giá dầu thô WTI giảm 0,5% xuống còn 51,06 USD/thùng sau khi tăng 0,8% vào thứ Tư.
Giá vàng tăng 0,2% lên 1.294,56 USD/oz, mở rộng đà tăng từ đầu tuần.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 22.890 26.292 26.606 30.763 30.239 203,92 209,28
BIDV 22.820 22.890 26.297 26.599 29.775 30.224 205,26 208,29
VietinBank 22.818 22.898 26.215 26.593 29.697 30.257 205,63 209,03
Agribank 22.810 22.885 26.372 26.692 29.993 30.414 205,18 208,37
Eximbank 22.810 22.900 26.274 26.616 29.869 30.258 206,08 208,76
ACB 22.830 22.900 26.287 26.616 29.959 30.258 206,09 208,67
Sacombank 22.930 22.913 26.322 26.682 29.945 30.304 206,45 209,50
Techcombank 22.790 22.890 26.027 26.729 29.531 30.350 204,51 209,84
LienVietPostBank 22.790 22.880 26.301 26.747 30.078 30.486 205,38 208,99
DongA Bank 22.830 22.900 26.310 26.600 30.880 30.240 204,80 208,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.720
36.900
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.720
36.900
Vàng SJC 5c
36.720
36.920
Vàng nhẫn 9999
35.850
36.250
Vàng nữ trang 9999
35.500
36.200