10:21 | 13/10/2017

Cập nhật thị trường toàn cầu sáng 13/10/2017

Đồng USD và lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ đã sẵn sàng cho tuần giảm đầu tiên sau 4 tuần tăng liên tục trước đó khi niềm tin vào kế hoạch cải cách thuế của Mỹ đã giảm và Fed cho biết một số nhà hoạch định chính sách thận trọng về việc tăng thêm lãi suất.

Thị trường chứng khoán châu Á biến động khi chỉ số S&P 500 giảm sau khi đã tăng lên mức cao kỷ lục mới trong tuần này. Chỉ số cổ phiếu của Mỹ bị kéo xuống bởi sự sụt giảm của cổ phiếu JPMorgan Chase & Co. và Citigroup Inc. do lo ngại về tín dụng tiêu dùng và sự sụt giảm trong doanh thu. Đồng tiền ảo Bitcoin tăng lên mức kỷ lục mới, leo lên trên mức 5.600 USD, trong khi dầu mỏ giao dịch quanh mức 51 USD/thùng, còn vàng đi ngang.

Đồng đôla Singapore đang hướng tới một tuần tăng giá sau khi NHTW nước này (MAS) không nhắc lại một cách cụ thể cam kết trước đó là giữ lập trường chính sách trung lập trong một thời gian dài. Thị trường Trung Quốc ít thay đổi sau khi nước này báo cáo xuất khẩu tăng trưởng vững chắc trong tháng trước.

Đồng bảng tăng trong phiên qua đêm khi Handelsblatt báo cáo nhà đàm phán hàng đầu của châu Âu có thể tạo cho Anh một khoảng thời gian chuyển đổi kéo dài hai năm ở lại thị trường chung miễn là Anh quốc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính.

Trong khi đồng euro vẫn giao dịch cao hơn khoảng 1 cent so với mức thấp 7 thiết lập trong phiên cuối tuần trước nhờ kỳ vọng ECB sẽ công bố việc thu hẹp chương trình mua trái phiếu tại cuộc họp sắp tới. Theo đó, các quan chức của ECB đang cân nhắc cắt giảm quy mô mua vào trái phiếu hàng tháng ít nhất là một nửa, bắt đầu vào tháng 1/2018, và duy trì chương trình này ít nhất là 9 tháng, theo các quan chức quen thuộc với vấn đề này cho biết.

Tại Mỹ, kế hoạch thuế của chính quyền ông Trump đã bị lung lay. Trong khi điểm nóng Triều Tiên vẫn đang âm ỉ.

Những thông tin đáng chú ý còn lại trong tuần:
- Xuất khẩu của Trung Quốc được dự báo sẽ tăng 10% trong tháng 9 từ mức 5,6% của tháng trước, nhờ nhu cầu mạnh mẽ của Hoa Kỳ và EU. Nhập khẩu cũng được kỳ vọng sẽ tăng nhanh, khiến thặng dư thương mại thu hẹp xuống còn 38 tỷ USD. NHTW Trung Quốc cũng có thể tiết lộ dữ liệu cho vay và cung tiền.
- Mùa bão đang diễn ra ở Đại Tây Dương có thể sẽ khắc họa rõ nét trong dữ liệu về doanh số bán lẻ và chỉ số giá tiêu dùng tại Mỹ. Chỉ số giá sản xuất tại Mỹ đã tăng mạnh nhất trong 5 tháng vào tháng 9 (tăng 0,4%) do chi phí xăng dầu tăng sau cơn bão Harvey.

Một số diễn biến chính trên các thị trường:

Cổ phiếu:
- Chỉ số Nikkei 225 của Nhật Bản tăng 0,2% vào lúc 11h29 tại Tokyo, sau khi đóng cửa ở mức cao nhất kể từ năm 1996 vào thứ Năm. Fast Retailing Co, chiếm tỷ trọng lớn nhất của chỉ số này, tăng 3,2% do doanh thu ở nước ngoài tăng. Trong khi chỉ số Topix đã giảm 0,1%.
- Hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 giảm gần 0,1%. Chỉ số cơ sở giảm 0,2% so với mức cao kỷ lục hôm thứ Tư.
- Chỉ số S&P/ASX 200 của Úc tăng 0,3%; chỉ số Hang Seng của Hồng Kông giảm 0,2%.

Tiền tệ:
- Chỉ số Bloomberg Dollar Spot đang hướng tới mức giảm 0,7% trong tuần này sau khi tăng điểm trong 4 tuần trước.
- Đồng euro tăng 0,2% trong ngày, ở mức 1,1849 USD.
- Đôla Singapore giảm 0,1% xuống còn 1,3536 SGD/USD, nhưng tăng 0,8% trong tuần này.
- Bảng Anh đang giao dịch ở mức 1,3279 USD sau khi tăng trong bốn phiên gần đây.
- Đồng yên Nhật tăng 0,2% lên 112,04 JPY/USD.

Trái phiếu:
- Lợi suất trái phiếu Kho bạc kỳ hạn 10 năm của Mỹ giữ ở mức 2,32%, thấp hơn 4 điểm cơ bản so với tuần trước.
- Lợi suất trái phiếu chính phủ 10 năm của Úc giảm nhẹ 1 điểm cơ bản vào sáng thứ Sáu, xuống còn 2,79%.

Hàng hóa:
- Giá dầu WTI tăng 0,6% lên 50,89 USD/thùng sau khi giảm 1,4% trong phiên giao dịch ngày thứ Năm, nhưng vẫn đang hướng tới một tuần giảm giá.

- Giá vàng tăng 0,2% lên 1.296,4 USD/oz. Kim loại quý này đã tăng 1,4% kể từ đầu tuần và dang hướng tới tuần tăng giá đầu tiên sau 5 tuần giảm.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,80
4,80
5,20
5,80
6,00
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,00
5,10
5,20
5,70
5,80
6,30
6,90
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
5,80
5,70
6,90
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
4,90
5,00
5,20
6,10
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.680 22.750 26.538 26.855 29.583 30.057 196,50 200,25
BIDV 22.680 22.750 26.521 29.831 29.610 30.048 197,16 200,10
VietinBank 22.670 22.750 26.506 26.874 29.584 30.123 197,09 200,55
Agribank 22.675 22.750 26.498 26.831 29.632 30.072 19718 20032
Eximbank 22.670 22.760 26.503 26.849 29.698 30.085 197,71 200,28
ACB 22.680 22.750 26.525 26.857 29.819 30.117 197,94 200,43
Sacombank 22.677 22.770 26.577 27.110 29.798 30.162 197,91 200,98
Techcombank 22.670 22.770 26.404 27.003 29.504 30.186 198,38 202,94
LienVietPostBank 22.660 22.750 26.537 26.853 29.793 30.053 198,50 200,21
DongA Bank 22.680 22.750 26.530 26.830 29.730 30.060 197,60 200,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.280
36.500
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.280
36.480
Vàng SJC 5c
36.280
36.500
Vàng nhẫn 9999
35.250
35.650
Vàng nữ trang 9999
34.950
35.650