10:31 | 15/06/2017

Cập nhật thị trường toàn cầu sáng 15/6/2017

Chứng khoán châu Á sụt giảm khi giá dầu chạm mức thấp nhất kể từ tháng 11/2016. Trái phiếu tăng điểm trong bối cảnh mối lo ngại về lạm phát thấp kéo dài ngay cả sau khi Chủ tịch Fed Janet Yellen cho rằng sự chậm lại của lạm phát chỉ là tạm thời.

Cổ phiếu năng lượng và nguyên liệu thô giảm mạnh nhất trong chỉ số MSCI châu Á - Thái Bình Dương khi dầu thô giao dịch dưới 45 USD/thùng. Trái phiếu Úc tiếp tục tăng cùng trái phiếu Kho bạc Mỹ khi dữ liệu cho thấy giá tiêu dùng lõi tại Mỹ (không bao gồm thực phẩm và năng lượng) có mức tăng nhỏ nhất kể từ tháng 5/2015. Chứng khoán tương lai của Mỹ giảm sau khi có báo cáo rằng các nhà điều tra đang điều tra việc liệu Tổng thống Mỹ Donald Trump có cản trở công lý hay không. Đôla Úc đã tăng sau một báo cáo việc làm đáng khích lệ.

“Không có gì ngạc nhiên khi thấy dữ liệu của Mỹ có ảnh hưởng sâu sắc hơn đến thương mại so với lời “hùng biện” của Fed với thị trường ngày càng ít thuyết phục hơn”, Jingyi Pan - một nhà phân tích của IG Asia Pte Ltd tại Singapore cho biết. “Sự sụt giảm của giá dầu thô và việc bán tháo tương ứng các cổ phiếu năng lượng trong khu vực, trong khi đó, dường như là nguyên nhân chính gây ra sự sụt giảm trên sàn giao dịch khu vực”.

Trong buổi họp báo hôm qua, Chủ tịch Fed Yellen tỏ ra xem nhẹ việc áp lực giá cả yếu ớt trong mấy tháng qua và lên tiếng tin tưởng rằng ngân hàng trung ương sẽ đạt được mục tiêu lạm phát 2%. Các hành động và lời nói của Fed đã tạo ra sự cân bằng giữa việc giải quyết vấn đề tiếp tục thắt chặt để đáp ứng với tình trạng thất nghiệp đang suy giảm, đồng thời thừa nhận sự tồn tại của lạm phát thấp bất ngờ trong năm nay.

Fed đã quyết định tăng lãi suất cho vay qua đêm lần thứ 3 trong 6 tháng, đồng thời duy trì quan điểm của mình về việc sẽ tăng thêm 1 lần nữa vào năm 2017 và đưa ra một số chi tiết về kế hoạch cắt giảm bảng cân đối tài sản 4,5 nghìn tỷ USD trong năm nay. Hồng Kông tiếp theo động thái của FED, nâng cao nguy cơ bán tháo trong thị trường nhà ở đắt nhất thế giới.

Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng chính trị ở Washington vẫn đang thu hút sự quan tâm của giới đầu tư.

Những sự kiện quan trọng sắp tới:
- Các ngân hàng trung ương ở Nhật Bản, Thụy Sĩ, Indonesia và Anh cũng dự kiến ​​sẽ cân nhắc với quyết định chính sách trong tuần này.
- Pháp sẽ báo cáo lạm phát và Anh công bố số liệu bán lẻ.

Một số diễn biến chính trên thị trường:

Cổ phiếu:
- Hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 giảm 0,3% vào lúc 12h01 ở Tokyo. Chỉ số chính đã giảm 0,1% trong phiên ngày thứ Tư, trong khi các chỉ số Nasdaq công nghệ cao giảm 0,4%. Chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng lên mức kỷ lục mới, dẫn đầu là tăng Home Depot Inc. và Travellers Cos.
- Chỉ số Topix của Nhật giảm 0,4%; chỉ số S&P/ASX 200 của Úc giảm 1,1%, trong khi cổ phiếu của các công ty năng lượng và nguyên liệu giảm 2%; chỉ số Kospi của Hàn Quốc mất 0,6%.
- Chỉ số Hang Seng của Hồng Kông giảm 0,9% trong khi chỉ số Shanghai Composite vẫn giữ nguyên.

Tiền tệ:
- Đồng yên thay đổi chút ít ở mức 109,55 JPY/USD, sau khi tăng 0,5% trong phiên giao dịch hôm thứ Tư. Chỉ số Bloomberg Dollar Spot Index ổn định.
- Đôla Úc tăng 0,4% sau khi việc làm tăng 42.000 trong tháng 5, cao hơn ước tính của giới chuyên gia là tăng 10.000.
- Đôla New Zealand giảm 0,4% sau khi dữ liệu cho thấy GDP quý 1 của nước này chỉ tăng trưởng 0,5%, thấp hơn dự báo của các nhà kinh tế là tăng 0,7%.

Trái phiếu:
- Lợi suất trái phiếu Kho bạc 10 năm của Mỹ tăng gần 1 điểm cơ bản lên 2,13%, sau khi giảm 8,5 điểm cơ bản trong pheien hôm qua xuống 2,13%, mức thấp nhất kể từ tháng 11/2016.
- Lợi suất trái phiếu chuẩn của Úc giảm 5 điểm cơ bản xuống còn 2,35% phần trăm, thu hẹp đà giảm sau báo cáo việc làm.

Hàng hóa:
- Giá dầu thô kỳ hạn WTI giảm 0,1% xuống còn 44,69 USD/thùng sau khi giảm 3,7% trong phiên hôm qua. Chính phủ Mỹ cho biết các kho dự trữ xăng dầu và các sản phẩm dầu mỏ khác đã tăng lên vào tháng trước.
- Giá vàng tăng nhẹ 0,4% lên 1.265,33 USD/oz, sau khi giảm 0,5% vào ngày hôm trước.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,10
5,10
5,30
5,70
5,90
6,40
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
5,50
5,70
6,80
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
4,90
5,00
5,20
6,10
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.690 22.760 26.542 26.873 28.922 29.385 204,99 208,91
BIDV 22.690 22.760 26.521 26.825 28.931 29.361 205,62 208,74
VietinBank 22.680 22.760 26.488 26.832 28.871 29.370 205,35 208,80
Agribank 22.670 22.760 26.363 26.791 28.940 29.380 205,38 208,92
Eximbank 22.670 22.760 26.499 26.844 29.024 29.402 206,28 208,97
ACB 22.700 22.770 26.541 26.874 29.139 29.431 206,68 209,27
Sacombank 22.688 22.769 26.558 26.918 29.092 29.477 206,40 209,47
Techcombank 22.680 22.770 26.300 26.898 28.748 29.421 204,97 209,77
LienVietPostBank 22.680 22.770 26.302 26.855 29.116 29.409 204,78 209,20
DongA Bank 22.695 22.765 26.550 26.830 29.050 29.380 206,20 208,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.300
36.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.300
36.500
Vàng SJC 5c
36.300
36.520
Vàng nhẫn 9999
35.080
35.480
Vàng nữ trang 9999
34.780
35.480