11:21 | 17/07/2017

Cập nhật thị trường toàn cầu sáng 17/7/2017

Các thị trường cổ phiếu đang hướng đến đỉnh cao mới trong mọi thời đại khi kinh tế Trung Quốc tăng nhanh hơn dự kiến trong quý 2 đang là động lực thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu.

Chỉ số MSCI toàn cầu đã tăng cao hơn trong ngày thứ 7 liên tiếp sau khi dữ liệu cho thấy nền kinh tế Trung Quốc vẫn giữ đà tăng trưởng trong quý vừa qua, tăng cường sức hấp dẫn của các cổ phiếu sau khi số liệu lạm phát yếu ớt tại Mỹ đã làm giảm tính cấp thiết phải tiếp tục thắt chặt tiền tệ của NHTW Mỹ.

Chỉ số Composite Thượng Hải thu hẹp mức giảm đầu phiên do lo ngại các chính sách giảm tỷ lệ đòn bẩy trong nền kinh tế lớn nhất châu Á. Đôla New Zealand sụt giảm sau khi Phó Thống đốc NHTW New Zealand cho biết đồng nội tệ thấp hơn sẽ giúp cân bằng tăng trưởng.

Dữ liệu cho thấy nền kinh tế lớn nhất châu Á đã tăng trưởng 6,9% trong quý 2 so với cùng kỳ năm trước, tương đương mức tăng trưởng của quý đầu năm và cao hơn dự báo trung bình của các nhà kinh tế tham gia cuộc khảo sát của Bloomberg là tăng 6,8%. Dữ liệu này đến sau số liệu lạm phát và bản lẻ yếu tại Mỹ. Nhiều Tập đoàn lớn tiếp tục báo cáo thu nhập trong tuần này, bao gồm Microsoft Corp. và Unilever.

“Tất cả các chỉ số cho thấy nền kinh tế Trung Quốc đã ổn định”, Liu Li-Gang - chuyên gia kinh tế Trung Quốc tại Citigroup Inc. cho biết trong bài phỏng vấn trên Bloomberg TV.

Chỉ số Kospi của Hàn Quốc cũng đang hướng đến một đỉnh cao mới trong mọi thời đại. Các hợp đồng tương lai dựa trên chỉ số FTSE 100 của Anh chỉ ra những bước tăng lên khi bắt đầu phiên giao dịch chứng khoán London. Thị trường chứng khoán Nhật Bản đóng cửa nghỉ lễ. Đôla Mỹ vẫn quanh quẩn ở mức thấp nhất kể từ tháng 9, với việc các nhà đầu cơ đang nắm giữ các vị trí giảm giá nhiều nhất đối với đồng bạc xanh kể từ năm 2013...

Những thông tin đáng chú ý sắp tới:
NHTW châu Âu (ECB) sẽ nhóm họp vào hôm thứ Năm và Bloomberg Intelligence dự báo ​​sẽ không thay đổi nào tại cuộc họp này và ECB sẽ không tăng lãi suất trước năm 2019. Reuters cũng trích dẫn lời của các quan chức không muốn nêu danh rằng ECB vẫn để ngỏ thời điểm kết thúc chương trình mua bán tài sản.
NHTW Nhật Bản cũng được dự báo sẽ giữ nguyên chính sách tại cuộc họp diễn ra vào vào thứ Năm.
Vòng 2 của các cuộc đàm phán Brexit sẽ được tiến hành tại Brussels.
NHTW Úc sẽ phát hành biên bản cuộc họp chính sách ngày 4/7 vào vào thứ Ba tới. Báo cáo về thị trường lao động Úc sẽ được đưa ra vào thứ Năm.

Một số diễn biến chính trên thị trường:

Cổ phiếu:
Chỉ số MSCI châu Á - Thái Bình Dương tăng 0,2% vào lúc 11h45 sáng ở Singapore, mở rộng mức tăng 3,1% trong tuần trước; chỉ số Kospi của Hàn Quốc tăng 0,4%; chỉ số Hang Seng của Hong Kong tăng 0,6%; chỉ số S&P/ASX 200 của Úc tăng 0,1%.
Chỉ số Shanghai Composite mất 0,1%, thu hẹp mức giảm mạnh 2,6% thời điểm đầu phiên.
Hợp đồng tương lai chỉ số FTSE 100 tăng 0,4% và các hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 Index không thay đổi nhiều.

Tiền tệ và trái phiếu:
Đồng yên giảm 0,1% xuống còn 112,60 JPY/USD sau khi tăng 1,2% vào tuần trước.
Chỉ số Bloomberg Dollar Spot Index tăng 0,1% sau khi giảm 1,3% trong tuần trước.
Trái phiếu Kho bạc giao dịch kỳ hạn ít biến động trong phiên giao dịch sáng nay. Lợi suất trái phiếu Kho bạc kỳ hạn 10 năm của Mỹ giảm 5 điểm cơ bản trong tuần trước xuống còn 2,33%.
- Đô la Úc giảm 0,3% trong phiên sáng nay; trong khi đôla New Zealand giảm 0,2%.

Hàng hóa:
Giá dầu thô WTI tăng 0,2% lên 46,64 USD/thùng, hướng đến ngày tăng gái thứ 6 liên tiếp.
Giá vàng tăng 0,2% lên 1.230,92 USD/oz.
- Giá đồng tăng 0,4% lên mức 5.950 USD/tấn.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,10
5,10
5,30
5,70
5,90
6,40
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
5,50
5,70
6,80
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
4,90
5,00
5,20
6,10
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.700 22.770 26.998 27.320 30.490 30.979 200,27 204,10
BIDV 22.695 22.765 27,093 27.335 30.755 31.029 202,12 203,88
VietinBank 22.690 22.770 27.093 27.359 30.514 30.942 200.89 203.53
Agribank 22.680 22.760 27.050 27.356 30.399 30.836 201,45 204,67
Eximbank 22.680 22.770 26.957 27.308 30.429 30.825 201,44 204,06
ACB 22.700 22.770 26.892 27.297 30.431 30.913 200,95 204,65
Sacombank 22.695 22.776 27.023 27.383 30.522 30.882 201,49 204,55
Techcombank 22.680 22.780 26.742 27.379 30.134 30,926 200,21 204,91
LienVietPostBank 22.670 22.760 26.740 27.297 30.708 31.019 19885 203,20
DongA Bank 22.700 22.770 26.950 27.360 30.420 30.880 201,00 204,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.500
36.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.500
36.700
Vàng SJC 5c
36.500
36.720
Vàng nhẫn 9999
35.720
36.120
Vàng nữ trang 9999
35.420
36.120