16:19 | 04/05/2018

Cầu lấn át cung đẩy lãi suất TPCP ở mức thấp

Lãi suất trái phiếu Chính phủ (TPCP) vẫn duy trì ở mức thấp, kỳ hạn 5 năm chỉ ở mức 2,97% (phiên ngày 2/5/2018)...

Ngân hàng tích cực gỡ khó cho doanh nghiệp
Chỉ huy động thêm được 600 tỷ đồng TPCP, kỳ hạn 10 năm ế toàn bộ
Ảnh minh họa

Đâu là lý do lãi suất TPCP lại thấp như vậy và điều này tác động thế nào đến lãi suất NH. Phóng viên Thời báo Ngân hàng có cuộc trao đổi nhanh với Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia TS. Cấn Văn Lực.

Đâu là lý do khiến cho lãi suất TPCP lại ở mức thấp như vậy, thưa ông?

Theo tôi có hai lý do chính: nhu cầu về TPCP tăng lên trong thời gian qua. Các khách hàng quen thuộc là NH vẫn tiếp tục mua để nắm giữ một khối lượng nhất định TPCP đảm bảo thanh khoản cho NH vừa là tuân thủ theo một số quy định của NHNN. Thứ hai, thời gian qua, một số đối tượng khác có nhu cầu đầu tư TPCP nhiều hơn như các công ty bảo hiểm đặc biệt là bảo hiểm xã hội, các quỹ đầu tư nước ngoài đã mua khối lượng lớn TPCP. Với sự tham gia của các NĐT mới này đã giảm tỷ lệ nắm giữ TPCP của các NHTM từ 80% xuống còn khoảng 55-57%.

Thứ hai là do giải ngân đầu tư công chậm dẫn đến hệ quả nhu cầu phát hành TPCP giảm trong thời gian vừa qua. Mấy năm trước mỗi năm lượng TPCP phát hành ở mức 280 nghìn tỷ đồng, còn hiện tại chỉ có khoảng 200 nghìn tỷ đồng. Cung giảm, trong khi lượng cầu lại rất lớn khiến cho giá TPCP lên rất nhanh. Mà giá cả và lãi suất TPCP có quan hệ nghịch với nhau, nên đã đẩy lãi suất của TPCP xuống mức đáy với kỳ hạn 5 năm ở mức dưới 3%.

Lãi suất TPCP thấp sẽ tác động thế nào đến lãi suất NH, thưa ông?

Lãi suất TPCP thấp là điều kiện cho các NH giữ mặt bằng lãi suất huy động (LSHĐ) đồng thời cũng đặt NH vào tình huống cần giảm LSHĐ. Vì lãi suất TPCP được coi là đường cong chuẩn cho lãi suất NH. Gần đây một số NH đã giảm LSHĐ. Tuy nhiên, tôi cho rằng LSHĐ của các NH giữ ổn định ở mức như hiện nay, khó có thể giảm thêm được nữa.

Vì sao ông lại nhìn nhận như vậy?

Vì hiện tại lãi suất đang ở mức đáy rồi nên cũng khó có thể giảm thêm được nữa. Mặt khác, muốn đảm bảo hoàn thành kế hoạch phát hành 200 nghìn tỷ đồng TPCP trong năm nay, có lẽ kho bạc nhà nước (KBNN) phải tính đến nâng lãi suất trái phiếu lên. Nếu không tình trạng ế ẩm trong các phiên đấu thầu sẽ vẫn tiếp diễn.

Đối với NH, ngay cả lãi suất TPCP ở mức thấp như vậy thì cũng khó có thể giảm LSHĐ mà về cơ bản nó giúp cho ổn định mặt bằng lãi suất. Việc giảm lãi suất còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cả trong nước và quốc tế. Yếu tố ngoại có thể thấy rõ là áp lực từ việc Fed dự kiến tăng lãi suất đồng USD từ 0,75 - 1%/năm, đương nhiên sẽ đẩy mặt bằng lãi suất USD, khiến việc giảm lãi suất đồng VND càng khó khăn.

Còn yếu tố nội tại có thể thấy rõ là áp lực tăng lạm phát năm 2018 cao hơn so với năm 2017 do giá hàng hóa cơ bản, đặc biệt là giá dầu năm nay dự kiến tăng trở lại. Ngoài ra, Việt Nam tiếp tục trong lộ trình tăng giá những mặt hàng cơ bản như giá điện tăng 6,08% so cuối năm ngoái; lương cơ bản tăng từ ngày 1/7 tới đây; một số tỉnh hoàn tất việc tăng giá dịch vụ y tế trong năm nay…

Lượng cung tiền ra nền kinh tế duy trì khá lớn ở cả kênh tín dụng, vốn đầu tư tư nhân và nước ngoài. Các kênh đầu tư khác vẫn hấp dẫn nên NĐT sẽ có nhiều lựa chọn hơn và các NH cũng sẽ phải giữ mặt bằng lãi suất tốt để giữ chân khách hàng nên LSHĐ cũng không thể giảm được…

Nhìn rộng hơn, ông đánh giá thế nào về sự phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ trong thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát?

Tôi thấy, thời gian qua sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ ngày càng tốt hơn. Đơn cử, khi Bộ Tài chính phát hành TPCP đều có thông báo với NHNN về thời lượng, thời hạn phát hành cũng như mức lãi suất dự kiến. Hiện, Chính phủ đã và đang chỉ đạo quyết liệt về mặt chính sách để đảm bảo kinh tế vẫn tăng trưởng ở mức hợp lý và kiềm chế được lạm phát dưới 5%. Để đạt mục tiêu trên, theo tôi việc tăng cường phối hợp chính sách, đặc biệt giữa tiền tệ với tài khóa và kiểm soát giá cả để đảm bảo đồng bộ các công cụ có ý nghĩa rất quan trọng.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,20
4,60
5,30
5,50
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.290 23.370 27.276 27.613 30.596 31.100 204,12 210,64
BIDV 23.290 23.370 27.278 27.607 30.620 31.090 204,92 208,35
VietinBank 23.285 23.375 27.237 27.615 30.574 31.134 204,90 208,30
Agribank 23.255 23.345 27.011 27.347 30.315 30.753 205,20 208,45
Eximbank 23.280 23.380 27.272 27.636 30.712 31.122 205,65 208,41
ACB 23.300 23.380 27.294 27.646 30.820 31.139 205,56 208,30
Sacombank 23.295 23.387 27.329 27.686 30.802 31.166 205,87 208,94
Techcombank 23.260 23.380 27.013 27.759 30.370 31.233 204,37 209,76
LienVietPostBank 23.260 23.360 27.213 27.680 30.743 31.166 205,14 208,81
DongA Bank 23.300 23.380 27.300 27.620 30.740 31.110 204,50 208,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.550
36.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.550
36.700
Vàng SJC 5c
36.550
36.720
Vàng nhẫn 9999
34.430
34.830
Vàng nữ trang 9999
33.980
34.780