09:17 | 11/07/2019

Chỉ mới là bắt đầu

Nhiều khả năng tại đại hội cổ đông những năm tới đây, khi nói về kế hoạch phát triển mảng môi giới, công ty chứng khoán sẽ phải chi tiết hóa từng thị trường từ phái sinh, từng sản phẩm và cơ sở. Cuộc chơi nhiều sân chỉ mới bắt đầu.

Chứng quyền có bảo đảm lần đầu ra mắt tại Việt Nam
Chiêu thời thượng
Chứng quyền có bảo đảm: Tổng quan những điều cần biết

Ngày 9/7 đã ghi nhận mức thanh khoản thấp nhất trên thị trường chứng quyền có đảm bảo (CW) khi tổng khối lượng giao dịch đạt 1,35 triệu với giá trị 2,6 tỷ đồng. Điều này có nghĩa là thanh khoản của CW chỉ tương ứng khoảng… 1% so với thị trường cơ sở. Trong khi đó, nếu tính trên cùng một giá trị giao dịch thì phí thu về của hợp đồng tương lai (HĐTL) cũng chỉ bằng1/10so với thị trường cơ sở.

Hiện nay, phí giao dịch không phải là nguồn tạo ra lợi nhuận cho công ty chứng khoán mà chỉ đủ trang trải (cover) các loại chi phí vận hành. Tạo ra lợi nhuận chính là lãi cho vay margin, và đó cũng là lý do mà các công ty chứng khoán vẫn đang tìm cách giảm phí hết mức có thể, thậm chí miễn phí. Việc thanh khoản của hợp đồng tương lai có thể lên đến hơn 10.000 tỷ đồng/phiên cùng với tỷ lệ đòn bẩy cao nên sẽ giúp các công ty chứng khoán có nguồn thu đáng kể từ lãi cho vay margin.

Các công ty chứng khoán phải tính toán những nước đi phù hợp

Còn với CW, những con số sơ bộ về thanh khoản của thị trường này cũng đã phần nào cho thấy, để tạo ra được nguồn thu ổn định và đủ mạnh sẽ cần nhiều thời gian hơn nữa. Tuy nhiên, hệ thống sản phẩm hiện nay bao gồm cổ phiếu, chứng chỉ quỹ, CW và hợp đồng tương lai, sẽ buộc các công ty chứng khoán phải tính toán những nước đi phù hợp để vừa đảm bảo nguồn thu nhập hiện tại, nhưng cũng tránh hụt hơi trong tương lai.

Đơn cử, tại thị trường phái sinh, khi tất cả những công ty chứng khoán quay về một loại sản phẩm mới, chênh lệch giữa nhóm kỳ cựu và nhóm mới nổi có thể được thu hẹp. Tuy nhiên, nếu các công ty chứng khoán mới chỉ chạy theo phái sinh mà để “hổng” thị trường cơ sở thì chưa chắc đã hay. Bởi lẽ, yêu cầu của nhà đầu tư sẽ ngày một cao, công ty chứng khoán sẽ phải tìm mọi cách đáp ứng, chẳng hạn, nếu trong một thời điểm nhất định nào đó, dòng tiền dịch chuyển mạnh về thị trường cơ sở, nếu công ty chứng khoán chỉ mạnh về phái sinh e rằng sẽ gặp khó.

Trong khi đó, để đầu tư cho thị trường cơ sở, đòi hỏi công ty chứng khoán phải tuyển dụng, chiêu mộ những nhân sự giỏi, phải xây dựng những công cụ phân tích, dự báo thị trường, và quan trọng là phải vận hành một thời gian dài để tích lũy. Chưa kể, việc tìm kiếm nhân sự không chỉ đòi hỏi chi phí cao, mà còn phụ thuộc vào chiến lược của công ty. Nếu công ty không cho thấy sức hấp dẫn thì dù có trả lương cao chưa chắc người tài sẽ về.

Theo chiều ngược lại, những công ty chứng khoán lớn dù nắm trong tay nhiều lợi thế nhưng không phải là không có thách thức. Chẳng hạn, việc nắm giữ thị phần cơ sở lớn sẽ là áp lực, việc mở thêm thị phần sẽ tốn kém thêm nhiều chi phí. Trong khi đó, nguy cơ bị một số công ty chứng khoán mới nổi, đánh chiếm thị phần là rất hiện hữu. Dẫn chứng gần nhất là thị phần quý II của một số công ty dù dẫn đầu nhưng đã giảm hơn so với quý trước. Bản thân khi phát triển sản phẩm mới, nếu công ty chứng khoán mới nổi có thể tập trung tối đa nguồn lực cho một sản phẩm, còn công ty chứng khoán lớn sẽ phải dùng nhiều hơn từ nguồn lực hiện có. Áp lực một người nhiều việc có thể gây khó phần nào cho các công ty chứng khoán lớn.

Nhiều khả năng tại đại hội cổ đông những năm tới đây, khi nói về kế hoạch phát triển mảng môi giới, công ty chứng khoán sẽ phải chi tiết hóa từng thị trường từ phái sinh, từng sản phẩm và cơ sở. Cuộc chơi nhiều sân chỉ mới bắt đầu.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.260 25.903 26.761 28.708 29.168 207,73 215,91
BIDV 23.140 23.260 25.886 26.631 28.688 29.173 212,15 217,57
VietinBank 23.130 23.260 25.887 26.682 28.637 29.277 212,36 218,86
Agribank 23.145 23.250 25.890 26.286 28.710 29.185 212,32 216,19
Eximbank 23.140 23.250 25.916 26.274 28.806 29.204 213,25 216,20
ACB 23.130 23.250 25.917 26.274 28.875 29.199 213,18 216,12
Sacombank 23.100 23.250 25.912 26.317 28.826 29.228 212,26 216,81
Techcombank 23.120 23.260 25.656 26.516 28.457 29.326 211,63 218,93
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.849 26.328 28.830 29.260 212,79 216,73
DongA Bank 23.160 23.240 25.940 26.260 28.810 29.180 209,90 215,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.200
39.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.200
39.450
Vàng SJC 5c
39.200
39.470
Vàng nhẫn 9999
39.080
39.580
Vàng nữ trang 9999
38.780
39.580