10:47 | 13/03/2019

Chỉ số niềm tin người tiêu dùng quý IV/2018 giảm xuống 122 điểm

Mất 7 điểm so với quý trước đó, tuy nhiên Việt Nam vẫn xếp hạng 4 trong các nước lạc quan nhất trên thế giới, chỉ sau Ấn Độ, Philippines và Indonesia.

Theo số liệu thống kê mới nhất được Nielsen - công ty đo lường hiệu quả kinh doanh toàn cầu - công bố hôm 12/3/2019, trong quý IV/2018, Việt Nam xếp hạng 4 các nước lạc quan nhất trên thế giới, với chỉ số niềm tin người tiêu dùng (CCI) đạt 122 điểm, chỉ sau Ấn Độ, Philippines và Indonesia (các nước này có điểm số lần lượt là 133, 131 và 127).

Giảm điểm trong dự kiến

So với quý III/2018, chỉ số niềm tin người tiêu dùng Việt Nam giảm 7 điểm. Tuy nhiên, sự giảm điểm này là điều nằm trong dự kiến, theo nhận định của bà Nguyễn Hương Quỳnh, Tổng giám đốc Nielsen Việt Nam.

“Trước thềm năm mới 2019, người tiêu dùng Việt Nam tỏ ra lo lắng về tiền thưởng cuối năm cũng như các khoản chi tiêu ngày Tết”, bà Quỳnh chia sẻ. “Do một phần đến từ những gì xảy ra trong Tết 2018 không thực sự như kỳ vọng, dẫn đến việc giảm điểm CCI như đã thấy”.

Nhưng với xu hướng tăng đều trong cả năm, điểm CCI của Việt Nam cuối năm 2018 vẫn cao hơn nhiều so với mức trung bình của khu vực và thế giới, lần lượt là 117 và 107 điểm.

Báo cáo từ Nielsen cho biết chỉ số niềm tin người tiêu dùng của nhiều quốc gia cũng có xu hướng giảm trong quý IV/2018 do những bất ổn về chính trị và chi phí sinh hoạt (7/14 các nước châu Á - Thái Bình Dương và 39/64 các nước trên thế giới).

Trong khu vực Đông Nam Á nói riêng, Malaysia là quốc gia có điểm CCI giảm mạnh nhất (-9 điểm so với quý III/2018) và kết thúc năm 2018 với 118 điểm. Tương tự Việt Nam, nước này có chỉ số niềm tin người tiêu dùng tăng trưởng kỷ lục trong quý III trước khi quay lại mức gần bằng với quý II trong quý cuối của năm.

Ổn định công việc, sức khỏe vẫn là quan tâm hàng đầu

Trong quý IV/2018, người tiêu dùng Việt Nam vẫn tiếp tục nhận định sự ổn định trong công việc (43%, + 3% so với quý III/2018) và sức khỏe (43%, + 3% so với quý I/2018) là hai mối quan tâm hàng đầu, trong khi đó 27% số người được khảo sát cho biết vấn đề cân bằng cuộc sống (27%, +1% so với quý III/2018) là điều đáng quan tâm thứ ba.

Trong quý này, sự ổn định của nền kinh tế quốc gia đã giảm một bậc trong danh sách những mối quan ngại chính của người tiêu dùng, với chỉ 20% người được hỏi cảm thấy lo lắng về vấn đề này (so với 27% trong quý III/2018).

Kết quả này khá tương đồng với sự gia tăng mức độ lạc quan của người tiêu dùng về tình trạng kinh tế Việt Nam: chỉ có 36% người cho rằng kinh tế Việt Nam đang trong tình trạng suy thoái so với 41% trong quý III/2018.

Tuy nhiên, người tiêu dùng lại kém lạc quan hơn về cơ hội việc làm và tình hình tài chính cá nhân của họ. Khoảng ba phần tư số người được khảo sát cho rằng họ sẽ có cơ hội việc làm tốt hoặc xuất sắc (75%, -5% so với quý III/2018) hoặc sẽ có tình hình tài chính cá nhân tốt hoặc xuất sắc trong 12 tháng tới (76%, -6% so với quý III/2018).

Các mối quan tâm khác của người Việt được phản ánh trong báo cáo là phúc lợi hoặc sức khỏe của phụ thân (19%) cũng như giáo dục hoặc phúc lợi của con cái (8%).

“Việc tỷ lệ lạm phát được quản lý tốt trong năm (3,4% trong quý IV/2018) đã giúp cho chi phí sinh hoạt được kiểm soát ở mức ổn định hơn. Bên cạnh đó, có thể thấy giá cả thực phẩm hoặc hóa đơn điện nước không còn là các vấn đề người tiêu dùng lo ngại trong quý này. Nhờ vậy, họ có thể chuyển hướng quan tâm sang những vấn đề quan trọng hơn như giáo dục và tương lai của con cái”, bà Quỳnh giải thích thêm.

Tiết kiệm là ưu tiên hàng đầu

Người tiêu dùng Việt Nam tiếp tục đứng đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong quý IV/2018 về xu hướng tiết kiệm (78%, +6% so với quý III/2018, con số cao nhất kể từ quý III/2016), tiếp theo là người tiêu dùng Hồng Kông (71%), Ấn Độ (68%) và Thái Lan (67%).

Đáng chú ý là, ngay cả với sự gia tăng đáng kể nói trên trong ý định tiết kiệm, người Việt vẫn sẵn sàng chi cùng mức hoặc hơn cho các mặt hàng có giá trị lớn như quần áo mới, các kỳ nghỉ/du lịch hoặc các hoạt động giải trí bên ngoài.

Bù lại, trong quý IV/2018 họ ít có ý định chi tiêu hơn cho các sản phẩm công nghệ mới (43%, -4% so với quý III/2018), nâng cấp/trang trí nhà cửa (39%, -9% so với quý III/2018) và các gói bảo hiểm y tế (36%, -5 % so với quý III/2018).

Tiết kiệm là văn hóa của người Việt Nam. Cộng với những lo lắng đề cập ở trên cho năm mới, không ngạc nhiên khi người tiêu dùng có ý định tiết kiệm nhiều hơn nữa vào thời điểm cuối năm.

“Tuy nhiên, chúng ta không nên vội đi đến kết luận rằng ý định giảm chi tiêu đối với một số mặt hàng sẽ vẫn tiếp tục trong tương lai. Khi nhìn vào xu hướng dài hạn, người Việt ngày càng sẵn sàng chi nhiều hơn cho các sản phẩm công nghệ và các sản phẩm bảo vệ sức khỏe. Do đó, các doanh nghiệp cần theo dõi sát sao xu hướng chi tiêu của người tiêu dùng để không bỏ lỡ các cơ hội cho mình”, bà Quỳnh nhận định.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.375 23.495 25.924 26.730 29.473 29.945 208,21 216,93
BIDV 23.350 23.470 25.909 26.659 29.483 29.980 209,73 215,03
VietinBank 23.355 23.485 25.900 26.635 29.437 30.077 210,08 216,58
Agribank 23.345 23.440 25.887 26.283 29.465 29.948 209,50 213,28
Eximbank 23.295 23.470 25.925 26.282 29.595 30.003 210,71 213,61
ACB 23.370 23.470 25.917 26.273 29.653 29.984 210,82 213,71
Sacombank 23.322 23.477 25.934 26.392 29.628 30.037 209,96 214,53
Techcombank 23.355 23.495 25.678 26.539 29.256 30.137 209,43 216,66
LienVietPostBank 23.330 23.470 25.844 26.321 29.580 30.020 210,17 214,09
DongA Bank 23.370 23.460 25.960 26.260 29.600 29.970 207,30 213,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.220
36.410
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.220
36.390
Vàng SJC 5c
36.220
36.410
Vàng nhẫn 9999
36.240
36.640
Vàng nữ trang 9999
35.790
36.390