10:54 | 01/02/2018

Chỉ số PMI tiếp tục tăng lên 53,4 điểm trong tháng 1

Lĩnh vực sản xuất của Việt Nam khởi đầu 2018 một cách thuận lợi với sản lượng, số lượng đơn đặt hàng mới và việc làm tăng mạnh hơn. Tất cả những điều này góp phần làm các điều kiện hoạt động cải thiện ở mức đáng kể nhất kể từ tháng 4/2017.

Nikkei – HIS Markit nhận định trong Báo cáo khảo sát chỉ số Nhà quản trị Mua hàng (Purchasing Managers’ Index PMI) toàn phần lĩnh vực sản xuất Việt Nam.

Nguồn: Nikkei, IHS Markit

Theo đó, chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất toàn phần của Việt Nam đã tăng từ mức 52,5 điểm của tháng 12 lên 53,4 điểm trong tháng 1, cho thấy sự cải thiện mạnh mẽ của sức khỏe lĩnh vực sản xuất. Lần cải thiện gần đây nhất của các điều kiện kinh doanh là lần cải thiện thứ 26 liên tiếp qua các kỳ khảo sát và là mức đáng kể nhất trong 9 tháng.

Có được điều đó là nhờ số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng vào đầu năm khi nhu cầu khách hàng được cải thiện. Đáng chú ý, tốc độ tăng đã nhanh hơn thành mức cao của 4 tháng. Bên cạnh đó, tình trạng cầu tích cực cũng được nêu bật ở các thị trường xuất khẩu, từ đó giúp số lượng đơn đặt hàng mới từ nước ngoài tiếp tục tăng.

Số lượng đơn đặt hàng mới tăng đã làm sản lượng ngành sản xuất tăng tháng thứ hai liên tiếp. Lần tăng này là mạnh và là nhanh nhất kể từ tháng 9 năm ngoái.

Các công ty tiếp tục nỗ lực tăng năng lực hoạt động trong tháng 1, dẫn tới việc họ phải thuê thêm nhiều nhân công. Trên thực tế, tốc độ tạo việc làm đạt mức cao của thời kỳ 16 tháng. Năng lực bổ sung đã giúp các nhà sản xuất giảm lượng công việc tồn đọng mặc dù số lượng đơn đặt hàng mới tăng. Cụ thể, lượng công việc chưa thực hiện đã giảm tháng thứ 3 liên tiếp.

Tăng trưởng sản xuất còn được hỗ trợ bởi mức tăng đáng kể của hoạt động mua hàng, và là mức tăng nhanh nhất trong 13 tháng. Trong khi đó, nhu cầu hàng hóa đầu vào tăng và tình trạng khan hiếm nguyên vật liệu đã góp phần làm tăng chi phí đầu vào. Tốc độ tăng giá đầu vào đã nhanh hơn và là một trong những mức tăng mạnh nhất trong lịch sử chỉ số. Tốc độ tăng giá cả đầu ra cũng đã nhanh hơn là là mức tăng mạnh nhất trong gần một năm.

Một điểm rất đáng chú ý là các nhà sản xuất ở Việt Nam nói chung kỳ vọng nhu cầu khách hàng tiếp tục tăng trong năm 2018, từ đó tiếp tục hỗ trợ cho mức độ lạc quan về tăng trưởng sản xuất. Mức độ lạc quan hầu như ngang bằng với mức của tháng 12.

Bình luận về dữ liệu khảo sát PMI ngành sản xuất Việt Nam, Andrew Harker - Phó Giám đốc IHS Markit - công ty thu thập kết quả khảo sát cho biết, sau khi giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tổng thể trong năm 2017, tháng đầu năm 2018 tiếp tục có những tin tức đáng khích lệ đối với lĩnh vực sản xuất của Việt Nam. Sản lượng, số lượng đơn đặt hàng mới và việc làm tăng nhanh hơn trong bối cảnh tình trạng cầu tăng.

“Với hiệp định thương mại TPP được đưa trở lại chương trình nghị sự, nhiều người sẽ lạc quan cho rằng lĩnh vực sản xuất sẽ tiếp tục tăng trong năm nay”, vị chuyên gia này cho biết.

Tuy nhiên, theo ông, có một ghi nhận thận trọng hơn là áp lực lạm pháp đã gia tăng, với chi phí đầu vào tăng ở mức độ cao nhất trong lịch sử khảo sát. Điều này góp phần chứng minh rằng tăng trưởng mạnh trên toàn cầu đang tạo áp lực lên chuỗi cung ứng của ngành sản xuất và làm tăng chi phí nguyên vật liệu.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,40
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,80
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,90
4,90
4,90
6,00
6,10
6,70
7,00
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.700 22.770 27.774 28.106 31.416 31.920 208,41 213,24
BIDV 22.705 22.775 27.772 28.089 31.369 31.839 210,12 213,26
VietinBank 22.696 22.776 27.742 28.148 31.386 31.946 210,35 213,83
Agribank 22.680 22.760 27.800 28.130 31.398 31.831 210,34 213,65
Eximbank 22.680 22.770 27.726 28.087 31.498 31.908 211,03 213,78
ACB 22.705 22.775 27.666 28.174 31.507 32.006 210,57 214,44
Sacombank 22.697 22.790 27.814 28.175 31.554 31.911 210,82 213,94
Techcombank 22.685 22.775 27.465 28.344 31.104 32.003 209,05 215,21
LienVietPostBank 22.650 22.775 27.736 28.203 31.491 31.912 210,54 214,23
DongA Bank 22.700 22.770 27.720 28.140 30.490 30.980 210,60 214,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.870
37.040
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.870
37.020
Vàng SJC 5c
36.870
37.040
Vàng nhẫn 9999
36.770
37.170
Vàng nữ trang 9999
36.420
37.120