09:27 | 19/08/2019

Chỉ thị số 40-CT/TW: Làm sáng hơn một chính sách giàu tính nhân văn

Thực tế triển khai 5 năm Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư không chỉ làm thay đổi căn bản nhận thức, hành động của cấp ủy, chính quyền địa phương về vai trò của tín dụng chính sách xã hội, mà hơn thế sức mạnh của cả hệ thống chính trị được tăng cường và hội tụ đã góp phần làm sáng hơn một chính sách tín dụng riêng giàu tính nhân văn của Đảng và Chính phủ.

Kết nối nguồn lực toàn dân

Như ở Thái Nguyên sự chỉ đạo xuyên xuốt từ tỉnh ủy và UBND tỉnh, công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW được triển khai đồng bộ từ cấp tỉnh đến cơ sở, đã tạo sự chuyển biến tích cực. Tỉnh đã xây dựng quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội để cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn tỉnh. Nguồn vốn từ ngân sách địa phương ủy thác chuyển sang NHCSXH để cho vay tăng mạnh trong 5 năm qua, đạt 80.249 triệu đồng, tăng 53.142 triệu đồng so với 31/12/2014.

Ảnh minh họa

Đặc biệt với một tỉnh đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 27% dân số, 124/180 xã, thị trấn miền núi, vùng cao, tỉnh đã triển khai Đề án “phát triển kinh tế - xã hội, ổn định sản xuất và đời sống các xóm, bản đặc biệt khó khăn có nhiều đồng bào dân tộc Mông sinh sống tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020” trong đó hỗ trợ kinh phí giống, phân bón và hỗ trợ lãi suất cho vay đối với các hộ nghèo và hộ cận nghèo vay vốn NHCSXH với tổng số tiền trên 17 tỷ đồng.

Hỗ trợ người nghèo và đối tượng chính sách đảm bảo an sinh xã hội không còn là trách nhiệm riêng của nhà nước mà đã kết nối được sự chung tay từ các DN và cộng đồng. Toàn tỉnh, Thái Nguyên đã huy động từ DN được 8,549 tỷ đồng (tăng 4.549 triệu so với 31/12/2014) chuyển qua NHCSXH cho vay đối tượng chính sách.

5 năm qua, tổng doanh số cho vay các chương trình tín dụng chính sách đạt 4.308.293 triệu đồng, với 140.528 lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn từ NHCSXH. Trong đó, 62.853 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo được vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh. 2.466 học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn đi học. 6.009 lao động được duy trì và tạo việc làm mới, 523 lao động được đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, 21.896 lượt hộ vay vốn để sản xuất kinh doanh và hoạt động thương mại tại vùng khó khăn. 66.704 công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn được xây dựng, 1.761 căn nhà ở cho hộ nghèo và 48 căn nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp. Tổng dư nợ tính đến 30/6/2019 đạt 3.389.831 triệu đồng, tăng 1.272.847 triệu đồng so với 31/12/2014 với 118.678 khách hàng, dư nợ bình quân đạt 28,56 triệu đồng/khách hàng. Ước đến cuối năm 2019 tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh sẽ giảm về 6,39%.

Tăng chất và lượng cho tín dụng chính sách

Nhìn rộng ra cả nước, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú - thành viên Ban Chỉ đạo sơ kết 5 năm tình hình thực hiện Chỉ thị số 40 cho biết, 5 năm qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành đã luôn quan tâm đến việc huy động, tập trung nguồn lực tài chính, đáp ứng nhu cầu vay vốn cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách dưới nhiều hình thức như: bố trí kịp thời vốn cấp bù chênh lệch lãi suất và chi phí quản lý, vốn điều lệ và vốn cấp thực hiện các chương trình tín dụng chính sách; quy định các tổ chức tín dụng nhà nước duy trì số dư tiền gửi 2% hàng năm tại NHCSXH; phân bổ 21.979 tỷ đồng cho NHCSXH trong kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016 – 2020 (đợt 2).

Về phía các địa phương, ngay khi Chỉ thị 40-CT/TW được ban hành, tỉnh ủy/thành ủy, UBND của 63/63 tỉnh, thành phố đã ban hành các văn bản chỉ đạo triển khai, thực hiện Chỉ thị và Kế hoạch triển khai Chỉ thị. Đặc biệt, nguồn vốn ủy thác của các địa phương cho hệ thống NHCSXH đã đạt hơn 14.400 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 6,6% trên tổng nguồn vốn của NHCSXH.

Sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội đã góp phần tăng cường giám sát cộng đồng đối với việc triển khai chủ trương, chính sách của Nhà nước về giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội cũng như đối với hoạt động tín dụng chính sách tại NHCSXH.

Cùng với sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đến nay hoạt động tín dụng chính sách xã hội đã đạt được những kết quả nhất định. Nguồn vốn tín dụng chính sách đã được đầu tư đến 100% xã, phường, thị trấn trên cả nước; trong đó, tập trung ưu tiên cho vay các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới...

NHCSXH đã và đang triển khai thực hiện 20 tín dụng chính sách xã hội và một số chương trình, dự án do các địa phương, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước uỷ thác cho NHCSXH thực hiện. Đến 30/6/2019, tổng dư nợ các chương trình tín dụng chính sách đạt 198.505 tỷ đồng, tăng 69.050 tỷ đồng so với từ thời điểm ban hành Chỉ thị, với hơn 6,6 triệu hộ nghèo và các đối tượng chính sách đang được vay vốn. Chất lượng tín dụng chính sách xã hội tiếp tục được củng cố và nâng cao, đến 30/6/2019, tổng nợ quá hạn và nợ khoanh chiếm 0,75%/tổng dư nợ.

Hoạt động tín dụng chính sách của NHCSXH trong 5 năm qua đã góp phần giúp trên 1,7 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút, tạo việc làm cho gần 902 nghìn lao động; giúp trên 19 nghìn lao động thuộc gia đình chính sách được vay vốn đi lao động có thời hạn ở nước ngoài; trên 301 nghìn học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng gần 6 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường ở nông thôn, gần 118 nghìn căn nhà cho hộ nghèo và các hộ gia đình chính sách...

Các chương trình tín dụng chính sách đã góp phần thực hiện thành công chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới; góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2011-2015 từ 14,2% xuống 4,25%, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều đã giảm từ 9,88% (năm 2015) xuống còn khoảng 5,23% (cuối năm 2018).

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.220
41.490
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.220
41.470
Vàng SJC 5c
41.220
41.490
Vàng nhẫn 9999
41.180
41.630
Vàng nữ trang 9999
40.670
41.470