15:14 | 12/03/2018

Chỉ xuất siêu hơn 500 triệu USD trong 2 tháng đầu năm

Theo Tổng cục Hải quan, cả nước chỉ xuất siêu gần 300 triệu USD trong tháng 2, thấp hơn nhiều con số xuất siêu 900 triệu USD như ước tính của Tổng cục Thống kê. Vì thế tính chung 2 tháng đầu năm, cả nước chỉ xuất siêu khoảng 504 triệu USD, thay vì xuất siêu 1,08 tỷ USD.

Xuất khẩu gạo khởi sắc đầu năm
Kết nối để đẩy mạnh xuất khẩu
Rào cản xuất khẩu nông sản Việt
Ảnh minh họa

Cụ thể, trong tháng 2, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước đạt gần 14,33 tỷ USD, giảm mạnh tới 29,1% so với tháng trước. Nguyên nhân do tháng 2 chỉ có 28 ngày, trong khi lại có tới 7 ngày nghỉ Tết. Mặc dù vậy, tính chung 2 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu của cả nước vẫn đạt gần 34,51 tỷ USD, tăng 26,1% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu của cả nước trong tháng 2 cũng chỉ đạt hơn 14,03 tỷ USD, giảm tới 30% so với tháng trước; lũy kế 2 tháng đầu năm đạt gần 34,01 tỷ USD, tăng 20,5% so với cùng kỳ.

Như vậy, cán cân thương mại hàng hóa của cả nước chỉ thặng dư có 300 triệu USD trong tháng 2 thay vì thặng dư 900 triệu USD như con số ước tính trước đó của Tổng cục Thống kê. Vì thế, tính chung 2 tháng đầu năm, cán cân thương mại hàng hóa chỉ thặng dư 504 triệu USD, thay vì 1,08 tỷ USD.

Xét riêng khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DN FDI), trong tháng 2 kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của khối này đạt gần 10,43 tỷ USD, giảm 26,1% so với tháng trước; lũy kế 2 tháng đầu năm đạt 24,53 tỷ USD, tăng 27,7% so với cùng kỳ.

Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của khối này trong tháng 2 đạt hơn 8,5 tỷ USD, giảm 27,3% so với tháng trước; lũy kế 2 tháng đầu năm đạt 20,25 tỷ USD.

Như vậy khu vực FDI tiếp tục xuất siêu 1,93 tỷ USD trong tháng 2, qua đó nâng con số xuất siêu trong 2 tháng đầu năm lên 4,28 tỷ USD. Điều đó cũng có nghĩa, khu vực kinh tế 100% vốn trong nước nhập siêu 1,63 tỷ USD trong tháng 2 và nhập siêu gần 3,78 tỷ USD trong 2 tháng đầu năm.

Những con số trên phần nào cho thấy thành tích xuất khẩu và xuất siêu của nền kinh tế chủ yếu do đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nó cũng cho thấy, mức độ lan tỏa của khu vực FDI đến khu vực kinh tế trong nước vẫn còn khá yếu ớt. 

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.830 22.900 26.428 26.744 30.027 30.508 202,61 208,33
BIDV 22.830 22.900 26.532 26.769 30.259 30.526 206,59 208,38
VietinBank 22.830 22.910 26.440 26.818 30.049 30.609 205,33 208,73
Agribank 22.825 22.900 26.368 26.711 30.109 30.500 206,49 209,17
Eximbank 22.820 22.910 26.450 26.793 30.119 30.511 206,38 209,06
ACB 22.840 22.920 26.393 26.889 30.131 30.621 205,87 209,74
Sacombank 22.840 22.923 26.505 26.868 30.203 30.568 206,45 209,51
Techcombank 22.810 22.910 26.185 26.890 29.838 30.661 204,66 209,97
LienVietPostBank 22.820 22.910 26.337 26.801 30.169 30.589 206,38 210,09
DongA Bank 22.840 22.910 26.450 26.850 30.090 30.570 204,70 209,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.790
36.980
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.790
36.960
Vàng SJC 5c
36.790
36.980
Vàng nhẫn 9999
35.690
36.090
Vàng nữ trang 9999
35.340
36.040