08:58 | 02/10/2019

Chính phủ họp phiên thường kỳ tháng 9

Hôm nay, 2/10, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chính phủ họp phiên thường kỳ tháng 9/2019, tháng đánh dấu tốc độ tăng trưởng ngoạn mục, tạo cơ sở cho việc hoàn thành vượt mục tiêu tăng trưởng đề ra cho cả năm 2019.

Ảnh: VGP

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, bức tranh kinh tế - xã hội nước ta trong quý III và 9 tháng năm 2019 là rất tích cực.

Tốc độ tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm ước đạt 6,98%, là mức tăng cao nhất của 9 tháng trong 9 năm trở lại đây, trong đó riêng quý III ước tăng 7,31%, cao hơn cùng kỳ năm 2018. Động lực tăng trưởng chủ yếu là khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực dịch vụ.

Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng trưởng cao, ước đạt 9,36%, đóng góp 52,6% vào tăng trưởng chung, trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính dẫn dắt tăng trưởng chung của ngành và toàn nền kinh tế (ước tăng 11,37%).

Khu vực dịch vụ duy trì đà tăng trưởng ổn định, ước đạt 6,85%, cao hơn cùng kỳ (cùng kỳ là 6,75%), đóng góp 42,6% vào mức tăng trưởng chung; trong đó, đóng góp lớn nhất là ngành bán buôn, bán lẻ với tốc độ tăng trưởng ước đạt 8,31%, cao nhất trong khu vực dịch vụ.

Bên cạnh tăng trưởng khá, kinh tế vĩ mô tiếp tục duy trì ổn định, các chỉ số vĩ mô đều ở mức tích cực. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 tăng 0,32% so với tháng trước; tính chung 9 tháng, CPI bình quân tăng 2,5%, hướng tới mục tiêu vượt chỉ tiêu Quốc hội giao. Lạm phát cơ bản bình quân tăng 1,91% so với bình quân cùng kỳ.

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bằng 34,3% GDP và tăng 10,3% so với cùng kỳ năm 2018, cơ bản đạt mục tiêu Quốc hội giao. Trong đó, khu vực ngoài Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất (45,3%) và có tốc độ tăng cao nhất (16,9%).

Giải ngân vốn FDI 9 ước đạt 14,22 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2018. Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm nhất của các nhà đầu tư, chiếm tỷ trọng hơn 69% tổng số vốn đăng ký.

Hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục xu hướng tăng khá. Xuất siêu ước đạt 5,9 tỷ USD.

Trong 9 tháng, có hơn 102.000 doanh nghiệp thành lập mới, tăng gần 6% về số doanh nghiệp và tăng 34% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ.

Thị trường trong nước tiếp tục phát triển, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng ước đạt trên 3,6 triệu tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ.

Khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt gần 13 triệu lượt, tăng gần 11% so với cùng kỳ 2018. Việt Nam tiếp tục là điểm đến thu hút khách du lịch quốc tế. Theo Báo cáo Năng lực cạnh tranh du lịch toàn cầu năm 2019 của WEF, năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam tăng 4 hạng, từ 67/136 năm 2017 lên 63/140 quốc gia và nền kinh tế.

Về các lĩnh vực xã hội, công tác an sinh xã hội, chăm lo sức khỏe và đời sống nhân dân được quan tâm thực hiện. Chúng ta đã cấp được hơn 20 triệu thẻ bảo hiểm y tế, thẻ khám chữa bệnh cho các đối tượng chính sách; giải quyết việc làm cho trên 1,2 triệu lao động.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cập nhật kịch bản tăng trưởng năm 2019 trên cơ sở kết quả của quý III và 9 tháng cho thấy, trong các tháng cuối năm nếu không có vấn đề bất thường xảy ra, tốc độ tăng GDP có thể đạt cao hơn mức 6,8%, vượt mục tiêu Quốc hội giao.

Tuy nhiên, quý IV là quý quan trọng nhất, quyết định đến kết quả của cả năm. Trong bối cảnh khó khăn của kinh tế, thương mại thế giới, để hoàn thành toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra tại Nghị quyết của Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ, các cấp, các ngành cần tập trung cao độ, tiếp tục thực hiện quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra, trong đó, nhấn mạnh các giải pháp thúc đẩy tiêu dùng, đầu tư, nhất là đầu tư công, phát huy nội lực, tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế trước những diễn biến bất lợi từ kinh tế thế giới.

Theo chương trình phiên họp, bên cạnh thảo luận tình hình kinh tế - xã hội, Chính phủ sẽ nghe, thảo luận về các nội dung gồm việc bố trí vốn chuẩn bị đầu tư trong kế hoạch năm 2019; về dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về thúc đẩy giải ngân; về tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2019 và dự kiến kế hoạch đầu tư công năm 2020; về công tác chuẩn bị kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV; về việc sửa đổi điểm 7 Điều 91 Nghị định số 54/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Dược và một số nội dung quan trọng khác.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.335 26.205 28.880 29.373 202,12 215,27
BIDV 23.140 23.260 25.413 26.164 28.948 29.506 208,34 215,15
VietinBank 23.125 23.255 25.353 26.218 28.841 29.481 211,21 217,21
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.371 25.721 29.002 29.403 212,52 215,46
ACB 23.130 23.250 25.388 25.737 29.078 29.405 212,49 215,42
Sacombank 23.100 23.260 25.378 25.833 29.020 29.423 211,76 216,32
Techcombank 23.131 23.271 25.150 26.145 28.685 29.595 211,04 218,21
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.300 25.775 29.019 29.449 211,98 215,89
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.720 29.000 29.390 209,10 214,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.420
41.710
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.420
41.690
Vàng SJC 5c
41.420
41.710
Vàng nhẫn 9999
41.400
41.850
Vàng nữ trang 9999
40.890
41.690