12:00 | 15/11/2019

Chủ tịch FED: Lãi suất âm không phù hợp vào thời điểm hiện tại

Phát biểu trong phiên điều trần trước trước Liên ủy ban Kinh tế thuộc lưỡng viện Quốc hội ngày 13/11, Chủ tịch Fed Powell khẳng định với một nền kinh tế đang tăng trưởng, thị trường lao động mạnh mẽ và lạm phát vững như hiện nay, việc áp dụng lãi suất âm là không phù hợp.

Fed có thể giữ nguyên chính sách trong suốt năm 2020
Fed cần mạnh mẽ hơn để thúc đẩy lạm phát
Tác động từ động thái giảm lãi suất của Fed khá khiêm tốn

Quan điểm trên của ông Powell dường như là cách gián tiếp để “bác bỏ” ý tưởng Fed cần đưa lãi suất về mức âm mà Tổng thống Mỹ vừa nhắc tới chỉ 1 ngày trước đó. “Lãi suất âm chắc chắn sẽ không phù hợp trong môi trường hiện tại. Nền kinh tế của chúng ta đang ở một vị trí mạnh mẽ. Chúng ta có tăng trưởng, lĩnh vực tiêu dùng mạnh mẽ và chúng ta có lạm phát...”, Chủ tịch Fed nói và cho biết thêm: “Xu hướng lãi suất âm thường chỉ xuất hiện ở các nền kinh tế lớn vào thời điểm tăng trưởng và lạm phát ở các mức quá thấp. Nhưng các yếu tố đó không phải là trường hợp với nền kinh tế của Mỹ hiện nay”.

Ảnh minh họa

Ông Powell cũng cho rằng, tác động của 3 lần cắt giảm lãi suất trong năm nay vẫn chưa được thể hiện đầy đủ trong việc hỗ trợ chi tiêu hộ gia đình và hoạt động kinh doanh của DN, do đó cho phép Fed có thể duy trì lãi suất ở mức hiện tại và chỉ điều chỉnh trong trường hợp có những biến động đáng kể về triển vọng nền kinh tế.

Tại phiên điều trần này, Chủ tịch Fed cũng đưa ra một cảnh báo: Nếu có một cuộc suy thoái kinh tế tiếp theo xảy ra, một mình Fed sẽ không chống lại được mà chính sách tài khóa cần đóng một vai trò quan trọng. Ông Powell đưa ra lưu ý rằng, Fed trong lịch sử đã phải cắt giảm lãi suất khoảng 5% trong thời kỳ suy thoái lớn trước đây. Hiện tại, lãi suất đang ở mức 1,75%. Mặc dù về mặt kỹ thuật, Fed hoàn toàn có thể đưa lãi suất xuống dưới mức 0%, nhưng điều đó gây ra những hệ quả lớn đối với nền tài chính nên Fed đã loại trừ khả năng này. Điều đó hàm ý rằng, Fed hiện chỉ còn khoảng 1/3 dư địa so với thông thường để cắt giảm lãi suất trong trường hợp xảy ra suy thoái kinh tế lớn.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.200
41.440
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.200
41.420
Vàng SJC 5c
41.200
41.440
Vàng nhẫn 9999
41.160
41.580
Vàng nữ trang 9999
40.620
41.420