14:52 | 07/06/2019

Chứng khoán 7/6: Phiên phục hồi kỹ thuật

Thị trường đảo chiều tăng trong ngày cuối tuần sau tín hiệu phục hồi tích cực cuối phiên hôm qua, trong bối cảnh chứng khoán toàn cầu tiếp đà phục hồi và giá dầu đảo chiều, lên giá. 

Chứng khoán bật tăng mạnh trong phiên giao dịch ngày 7/6. Tính đến 14h30, VN-Index tăng 6,58 điểm 0,69%, đạt 954.79 điểm với 196 mã tăng và 88 mã giả. Trên sàn HNX, sắc xanh cũng hiển thị rõ nét khi HNX-Index tăng 0,84 điểm đạt 103.87 điểm, với 82 mã tăng và 47 mã giảm.

Thị trường đảo chiều tăng trong ngày cuối tuần sau tín hiệu phục hồi tích cực cuối phiên hôm qua. Thị trường chứng khoán toàn cầu cũng tiếp tục đà đi lên và giá dầu cũng đảo chiều tăng.

Sắc xanh đã trở lại rõ nét với sức bật tăng mạnh mẽ từ các nhóm cổ phiếu trụ. Thị trường tuy tăng trên diện rộng với độ rộng khá tích cực nhưng sức mạnh của bên tăng vẫn không rõ ràng.

Ngoài nhóm blue-chips tầm trung tăng quá 1%, các mã trụ khác rất kém: VIC tăng 0,69%, VNM tăng 0,4%, VHM tăng 0,12%, SAB, MSN tham chiếu, GAS tăng 0,6%, BID tăng 0,32%.

Đây liệu có phải là một phiên phục hồi kỹ thuật của thị trưởng?

Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) nhận định thị trường đã có phản ứng hồi phục tương đối tích cực về cuối phiên sau khi giảm về vùng hỗ trợ 930-940 điểm trong phiên hôm nay. Tín hiệu này được kỳ vọng sẽ giúp thị trường tăng điểm trở lại trong phiên cuối tuần.

Mặc dù vậy, BVSC vẫn chưa đánh giá cao khả năng thị trường có thể xác lập ngay nhịp tăng điểm từ vùng điểm này, mà hiện đang thiên về khả năng VN-Index sẽ cần thêm thời gian dao động tích lũy trong vùng được giới hạn bởi cận dưới 930-940 điểm và cận trên 958-963 điểm, trước khi phát đi những tín hiệu rõ nét hơn về khả năng hồi phục của thị trường trong ngắn hạn.

Về diễn biến các nhóm ngành, các cổ phiếu ngân hàng có khả năng sẽ bước vào nhịp hồi ngắn sau khi đã phá vùng đáy cũ như dự báo của BVSC trước đó. Nhóm dầu khí đang xuất hiện các nhịp hồi kỹ thuật và nhiều khả năng sẽ vẫn có thêm nhịp giảm điểm nữa, trước khi xuất hiện phản ứng hồi phục tăng điểm trở lại.

Theo Công ty Chứng khoán MBS, nhịp hồi cuối phiên ở thị trường cơ sở, đặc biệt là ở hợp đồng phái sinh tháng 6, có thể là tín hiệu tích cực khi mức đáy ở cả hai chỉ số này được retest thành công.

Công ty Chứng khoán Tân Việt (TVSI) thậm chí còn đưa ra kịch bản tích cực khi cho rằng chỉ số có thể vượt qua vùng kháng cự 955-960 điểm.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.230 23.350 26.151 26.915 29.358 29.828 213,84 222,61
BIDV 23.225 23.345 26.286 27.035 29.371 29.874 214,10 219,52
VietinBank 23.212 23.342 26.255 26.990 29.290 29.930 214,21 220,71
Agribank 23.245 23.345 26.076 26.474 29.280 29.761 214,44 218,35
Eximbank 23.220 23.330 26.292 26.655 29.467 29.874 215,08 218,05
ACB 23.210 23.330 26.284 26.645 29.508 29.838 214,96 21791
Sacombank 23.184 23.336 26.293 27.050 29.455 29.859 214,24 218,80
Techcombank 23.210 23.350 26.044 26.909 29.111 29.992 21368 221,01
LienVietPostBank 23.210 23.330 26.218 26.748 29.458 29.853 214,54 218,94
DongA Bank 23.240 23.330 26.320 26.640 29.460 29.840 211,60 217,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
38.700
38.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
38.700
38.950
Vàng SJC 5c
38.700
38.970
Vàng nhẫn 9999
38.450
38.950
Vàng nữ trang 9999
38.150
38.950