14:43 | 09/05/2019

Chứng khoán 9/5: Áp lực rủi ro cao

Các thị trường chứng khoán tại châu Á lại có phiên giao dịch chìm trong sắc đỏ sáng 9/5, trong bối cảnh giới đầu tư lo lắng chờ đợi kết quả khó lường từ cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Trung. Cùng với xu thế ấy, thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục có phiên giảm điểm.

Phiên sáng 9/5, VN-Index giảm 1,21 điểm (0,13%) xuống còn 950,01 điểm; HNX-Index giảm 0,14% còn 105,76 điểm; UPCoM-Index giảm 0,08% còn 55,06 điểm. 

Hai sàn vẫn giằng co trong biên độ rộng với 255 mã giảm, 252 mã tăng, 132 mã tham chiếu. Khối lượng giao dịch toàn thị trường ghi nhận 85 triệu đơn vị, tương ứng 1.611 tỉ đồng. Trong đó, giao dịch thỏa thuận trên HOSE khoảng 13,7 triệu đơn vị, tương ứng 341 tỉ đồng.

Chứng khoán vẫn chịu rủi ro cao

Công ty chứng khoán Bảo Việt (BVSC) cho rằng việc thị trường giảm điểm trong khi khối lượng giao dịch liên tục suy giảm và duy trì ở mức thấp cho thấy lực cung cổ phiếu đang có dấu hiệu bị suy yếu, còn lực cầu vẫn tiếp tục đứng ngoài chờ đợi điểm mua vào ở các vùng giá thấp. Các chỉ báo xu hướng vẫn ở trạng thái giảm cho thấy khả năng thị trường vẫn sẽ tiếp tục giảm điểm trong các phiên sắp tới. 

Công ty chứng khoán Rồng Việt (VDS) thì nhận định trước áp lực rủi ro của thị trường chứng khoán thế giới, VN-Index đã sụt giảm ngay từ đầu phiên giao dịch bất chấp mức hỗ trợ 955 điểm và chạm mức thấp nhất là 947,86 điểm.

Mặc dù có sự hỗ trợ trong phiên nhưng chỉ số không thể lấy lại mức 955 điểm. Nếu trong thời gian gần tới, chỉ số không thể vượt trên ngưỡng 955 điểm thì xu hướng giảm sẽ được mở rộng với vùng hỗ trợ gần là 925-930 điểm.

VDS khuyến nghị VN-Index đang tạm thời phá vỡ đường MA(200) sau thời gian được hỗ trợ trên đường này và gây áp lực rủi ro cao cho thị trường. Nếu trong thời gian gần tới, VN-Index không thể chinh phục lại đường MA(200) thì xu hướng giảm sẽ được mở rộng.

Từ phân tích trên, VDS cho rằng nhà đầu tư nên theo dõi sát diễn biến của thị trường trong thời gian gần tới và tập trung quản trị rủi ro danh mục, nếu yếu tố rủi ro vẫn gia tăng thì nên cân nhắc tiếp tục rút bớt danh mục để chờ cơ hội giải ngân mới.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.230 23.350 26.151 26.915 29.358 29.828 213,84 222,61
BIDV 23.225 23.345 26.286 27.035 29.371 29.874 214,10 219,52
VietinBank 23.212 23.342 26.255 26.990 29.290 29.930 214,21 220,71
Agribank 23.245 23.345 26.076 26.474 29.280 29.761 214,44 218,35
Eximbank 23.220 23.330 26.292 26.655 29.467 29.874 215,08 218,05
ACB 23.210 23.330 26.284 26.645 29.508 29.838 214,96 21791
Sacombank 23.184 23.336 26.293 27.050 29.455 29.859 214,24 218,80
Techcombank 23.210 23.350 26.044 26.909 29.111 29.992 21368 221,01
LienVietPostBank 23.210 23.330 26.218 26.748 29.458 29.853 214,54 218,94
DongA Bank 23.240 23.330 26.320 26.640 29.460 29.840 211,60 217,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
38.450
38.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
38.450
38.700
Vàng SJC 5c
38.450
38.720
Vàng nhẫn 9999
38.430
38.930
Vàng nữ trang 9999
37.900
38.700