15:50 | 12/07/2018

Chứng khoán chiều 12/7: Thanh khoản sụt giảm

Kết thúc phiên 12/7, VN-Index tăng 5,35 điểm (0,6%) lên 898,51 điểm. Toàn sàn có 158 mã tăng, 120 mã giảm và 53 mã đứng giá.

Trên sàn Hà Nội, HNX-Index tăng 1,91 điểm (1,94%) lên 100,43 điểm. Toàn sàn có 78 mã tăng, 51 mã giảm và 61 mã đứng giá. Việc HNX-Index vẫn duy trì được đà tăng mạnh là nhờ vào việc những cổ phiếu có tác động lớn nhất là ACB, SHB, VGC, VCS… đều tăng mạnh trong phiên hôm nay.

Đáng chú ý, hôm nay thanh khoản sụt giảm rất mạnh. Tổng khối lượng giao dịch trên hai sàn niêm yết chỉ đạt vỏn vẹn 139 triệu cổ phiếu, trị giá chỉ 2.700 tỷ đồng, trong đó, giao dịch thỏa thuận đóng góp 550 tỷ đồng.

Thị trường trong phiên chiều đã có những biến động rất mạnh. Có thời điểm lực cầu đã dâng cao và đẩy nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn đặc biệt là nhóm ngân hàng bứt phá. Thời điểm đó, một số cổ phiếu ngân hàng như BID, CTG… đã được kéo lên mức giá trần. Tuy nhiên, sự hưng phấn chỉ duy trì được trong thời gian ngắn, ngay sau đó, lực cầu yếu dẫn đã khiến đà tăng của nhóm này bị suy yếu đi đáng kể. BID chỉ còn tăng 4,1% lên 23.000 đồng/CP. CTG tăng 4,3% lên 21.800 đồng/CP.

Đà tăng của VN-Index vào cuối phiên cũng không còn quá mạnh do áp lực quá lớn đến từ các cổ phiếu trụ cột khác như VJC, VIC, FPT, PVD, HPG… Trong đó, VIC giảm 1,4% xuống 103.000 đồng/CP. PVD giảm 2,4% xuống 12.300 đồng/CP. HPG giảm 1,9% xuống 33.750 đồng/CP.

Sau phiên sụt giảm ngày hôm qua, chứng khoán châu Á tràn ngập sắc xanh trong ngày hôm nay. Các chỉ số chính trên thị trường châu Á như trong đó các thị trường gạt bỏ nỗi lo về thương mại sau động thái công bố danh sách hàng hóa Trung Quốc có thể chịu hàng rào thuế quan mới từ phía Mỹ.

Tính tới 13h20 giờ Việt Nam, Các chỉ số chính trên thị trường châu Á như Shanghai Composite của Trung Quốc tăng 59,55 điểm (tương ứng 2,14%); chỉ số Shenzhen Composite leo dốc 2,4%. Trên thị trường Hồng Kông, chỉ số Hang Seng tiến 256,45 điểm (tương ứng 0,91%). Ở Nhật Bản, chỉ số Nikkei 225 cộng 255,75 điểm (tương ứng 1,17%).

Ngày 10/7, chính quyền Donald Trump đã công bố danh sách hàng hóa Trung Quốc trị giá 200 tỷ USD để áp thuế nhập khẩu 10%, qua đó tiếp tục gia tăng căng thẳng thương mại với Trung Quốc.

Dự kiến kế hoạch này sẽ có hiệu lực sau thời điểm 30/08/2018. So với lần áp thuế đầu tiên nhắm vào 34 tỷ USD vào thứ 6 cuối tuần trước, trị giá hàng hóa trong kế hoạch đánh thuế mới thật sự lớn, tương đương 40% kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc vào Mỹ trong năm 2017.

Về phần mình, Trung Quốc cam kết sẽ đáp trả lại trước kế hoạch áp thuế bổ sung lên 200 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc, như một động thái “đổ thêm dầu vào lửa” trong cuộc chiến tranh thương mại vốn đã rất căng thẳng giữa hai nền kinh tế lớn nhất trên thế giới.

Bắc Kinh mô tả động thái mới nhất của Mỹ là động thái bắt nạt “không thể chấp nhận được”, đồng thời kêu gọi những quốc gia khác chung tay với Trung Quốc để bảo vệ thương mại tự do và chủ nghĩa đa phương.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.245 26.189 26.924 29.492 29.965 20838 21871
BIDV 23.155 23.245 26.171 26.534 29.508 29.968 20926 21289
VietinBank 23.142 23.242 26.110 26.925 29.442 30.002 20905 21555
Agribank 23.150 23.235 26.161 26.536 29.506 29.963 20914 21276
Eximbank 23.140 23.240 26.249 26.601 29.597 29.994 212,09 214,93
ACB 23.160 23.240 26.258 26.596 29.640 29.947 212,25 214,99
Sacombank 23.157 23.259 26.293 26.657 29.630 29.984 212,32 215,42
Techcombank 23.135 23.245 26.005 26.723 29.212 30.042 210,90 216,50
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.195 26.658 29.607 29.023 211,65 215,51
DongA Bank 23.160 23.230 26.270 26.570 29.560 29.930 211,00 215,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.670
Vàng SJC 5c
36.490
36.690
Vàng nhẫn 9999
36.370
36.770
Vàng nữ trang 9999
35.920
36.620