17:35 | 13/11/2017

Chứng khoán chiều 13/11: VNM dẫn dắt thị trường

Kết thúc phiên 13/11, VN-Index tăng 11,13 điểm (+1,28%) lên 879,34 điểm với 110 mã tăng và 168 mã giảm. 

Ảnh minh họa

Tổng khối lượng giao dịch đạt 282,1 triệu đơn vị, giá trị 13.440 tỷ đồng. Trong đó, giao dịch thỏa thuận đóng góp 94,36 triệu đơn vị, giá trị 8.776,8 tỷ đồng, chủ yếu là thỏa thuận VNM trong phiên sáng.

Phiên tăng điểm hôm nay của VN-Index xét về điểm số tuyệt đối là phiên tăng mạnh nhất kể từ phiên 11/8/2016, còn xét về số tuyết đối là phiên tăng mạnh nhất kể từ ngày 22/5/2017.

Dù số mã tăng đã nhiều hơn so với phiên sáng, nhưng đà tăng mạnh của VN-Index phiên chiều này vẫn chủ yếu nhờ một vài mã cổ phiếu lớn. Trong đó, VNM chính là mã có sức mạnh lớn nhất khi tăng 6,44%, lên 185.000 đồng với 4,33 triệu đơn vị được khớp. Mức giá này chỉ còn cách giá đấu giá thành công 1.000 đồng.

Ngoài VNM, trong top 10 mã có vốn hóa lớn nhất sàn HOSE, còn có thêm 7 mã khác cũng tăng giá, như SAB tăng 1,27%, lên 282.800 đồng, VIC tăng 3,03%, lên mức cao nhất ngày 68.000 đồng, VCB tăng 0,7%, lên 43.700 đồng, GAS tăng 2,99%, lên 79.200 đồng, VRE vẫn neo ở mức giá trần 46.350 đồng, ROS tăng 0,8%, lên 179.500 đồng, BID tăng 0,85%, lên 23.950 đồng. Chỉ có 2 mã trong nhóm này giảm nhẹ là CTG giảm 0,25% về 20.600 đồng và MSN giảm 0,84% về 59.900 đồng.

VNM đã có 2 phiên khởi sắc sau thông tin về cuộc đấu giá bán vốn nhà nước thành công, trong khi VIC liên tục tạo đỉnh mới, VRE có phiên tăng trần thứ 3 kể từ ngày chào sàn.

Trong nhóm ngân hàng, ngoài CTG, sắc đỏ còn xuất hiện tại MBB, VPB, EIB, STB, trong đó MBB có thanh khoản tốt nhất nhóm với 6,36 triệu đơn vị (đứng thứ 2 toàn sàn sau FLC), chốt phiên giảm 2,12%, xuống 23.600 đồng.

Trong khi đó, nhóm cổ phiếu thị trường, ngoại trừ TCH giữ được sắc tím 17.700 đồng, HAR, QCG tăng giá, còn lại đều chìm trong sắc đỏ, trong đó có mã đóng cửa ở mức sàn.

Đáng chú ý, ngoại trừ ROS hồi phục sau khi mất hơn 18% trong tuần qua, các mã còn lại thuộc “họ FLC” đều bị bán mạnh trong phiên hôm nay. Trong đó, HAI và AMD đóng cửa ở mức sàn 7.420 đồng (4,77 triệu đơn vị được khớp) và 6.910 đồng (2,26 triệu đơn vị được khớp), còn FLC nhờ lực cầu đỡ giá cuối phiên mới thoát khỏi mức giá sàn.

Đóng cửa phiên đầu tuần, FLC giảm 6,52%, xuống 6.020 đồng với 38,55 triệu đơn vị được khớp, vượt trội so với phần còn lại của thị trường.

Các mã khác như HQC, ITA, KBC, DLG, FIT, SCR, HAG, HNG, TSC cũng đều đóng cửa trong sắc đó, thậm chí 2 mã khoáng sản KSA và KSH còn dư bán sàn rất lớn. Cũng có mức sàn còn có AAA, HTT, DHM, PJT, CMT…

Trên HNX, sau khi hụt chân cuối phiên sáng, HNX-Index đã nhanh chóng lấy lại đà tăng trong phiên giao dịch chiều nhờ sự hỗ trợ của VCG, PVS, PVI, VCS, VGC, đặc biệt là mức trần của NTP.

Cụ thể, chốt phiên, HNX-Index tăng 0,31 điểm (+0,3%), lên 106,69 điểm với 54,68 triệu đơn vị được khớp, giá trị 669,74 tỷ đồng. Giao dịch thỏa thuận có thêm 1 triệu đơn vị, giá trị 18,77 tỷ đồng.

Trong đó, KLF là mã được khớp lớn nhất sàn với 16,21 triệu đơn vị, nhưng cũng giống những người anh em của mình trên HOSE, KLF cũng đóng cửa ở mức sàn 3.400 đồng khi chốt phiên.

Trong nhóm ngân hàng, ACB vẫn giảm 0,63%, xuống 32.300 đồng với 1,86 triệu đơn vị được khớp, SHB giảm 1,27%, xuống 7.900 đồng với 3,91 triệu đơn vị được khớp, NVB lùi về tham chiếu 7.000 đồng.

Trong khi đó, PVS đã đảo chiều thành công, đóng cửa tăng 1,24%, lên 17.000 đồng với 3,5 triệu đơn vị được khớp, PVI tăng 5,63%, lên 33.800 đồng. Ngoài ra, trong top 5 mã có vốn hóa lớn nhất sàn HNX, ngoại trừ ACB và SHB giảm nhẹ, còn lại đều tăng, trong đó VCS và VCG tăng mạnh.

Cụ thể, chốt phiên VCG tăng 8,33%, lên 24.700 đồng với 8,46 triệu đơn vị được khớp, đứng thứ 2 về thanh khoản sau KLF; VCS tăng 3,51%, lên 233.800 đồng, nhưng thanh khoản thấp.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,20
4,20
4,70
5,20
5,40
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,80
4,80
5,20
5,80
6,00
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,10
5,10
5,20
5,90
5,90
6,70
6,80
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
4,90
5,00
5,20
6,10
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.675 22.745 26.472 26.789 29.644 30.119 19965 20347
BIDV 22.680 22.750 26.492 29.802 29.671 30.116 20047 20343
VietinBank 22.665 22.745 26.458 26.825 29.616 30.156 20002 20355
Agribank 22.675 22.745 26.576 26.909 29.564 30.004 197,96 201,11
Eximbank 22.660 22.750 26.465 26.810 29.753 30.140 20108 20370
ACB 22.680 22.750 26.480 26.812 29.835 30.133 20103 20355
Sacombank 22.670 22.762 26.530 26.884 29.827 30.184 20101 20409
Techcombank 22.660 22.760 26.224 26.936 29.421 30.235 19920 20507
LienVietPostBank 22.660 22.750 26.464 26.816 29.776 30.074 199,71 202,18
DongA Bank 22.680 22.750 26.570 26.880 29.710 29.060 199,30 202,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.420
36.640
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.420
36.620
Vàng SJC 5c
36.420
36.640
Vàng nhẫn 9999
35.500
35.900
Vàng nữ trang 9999
35.200
35.900