10:01 | 08/05/2019

Chứng khoán vẫn tiềm năng dù lợi nhuận DN có giảm

Đây là khẳng định của các chuyên gia chứng khoán tại Hội thảo Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam 2019 – Góc nhìn vĩ mô và triển vọng lợi nhuận của DN vừa được VietinBank Securities phối hợp với Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội tổ chức chiều 7/5.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 7/5
Chứng khoán phái sinh tháng 4/2019: Giao dịch nhà đầu tư tổ chức tăng 3,2 lần
NĐT nên cân nhắc kỹ lưỡng triển vọng của từng nhóm, ngành để ra quyết định đầu tư

Ông Đào Tuấn Trung - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu VietinBank Securities cho biết, nhiều NĐT đang đặt ra nhiều câu hỏi với triển vọng TTCK khi nhiều vấn đề chưa được hóa giải như: liệu các nền kinh tế đã đi vào giai đoạn cuối của chu kỳ tăng trưởng hay chưa; chiến tranh thương mại còn tiềm ẩn những rủi ro gì; đường cong lãi suất có dấu hiệu đảo ngược…

Tuy nhiên, theo ông Trung, ở thời điểm hiện tại TTCK thế giới chưa có dấu hiệu khó khăn nào xuất hiện vì hầu hết đã được giải quyết tức thì ngay khi có các yếu tố tiêu cực.

“Trong bức tranh toàn cảnh như vậy, nền kinh tế của Việt Nam nổi lên là một điểm sáng vì các nhà điều hành Việt Nam có đầy đủ công cụ, nội lực hiện tại để kiểm soát nền kinh tế phát triển ổn định ở mức cao”, ông Trung nhìn nhận.

Dẫn chứng cho nhận định của mình, ông Trung cho biết, trong quý I/2019, GDP Việt Nam vẫn tăng 6,79% là mức cao so với khu vực, trong khi CPI vẫn ở mức thấp quanh vùng 2,7%; chỉ số PMI và các chỉ số bán lẻ khác cũng đang cho thấy các yếu tố tích cực. Ngoài ra một yếu tố quan trọng khác là tỷ giá rất ổn định và NHNN cho thấy có đầy đủ biện pháp, công cụ và nội lực để kiểm soát tỷ giá. Trong khi đó, mặt bằng lãi suất  đang được giữ ổn định và có dấu hiệu hạ nhiệt, đặc biệt sau tết đến nay.

Giải đáp thắc mắc của các NĐT về lạm phát, ông Trung cho rằng, trong năm 2019 áp lực lên lạm phát là không nhiều, NHNN có đủ khả năng và điều kiện để tiếp tục giữ lạm phát ở mức ổn định vì áp lực từ cung tiền thấp, trong khi áp lực từ nhập khẩu lạm phát không cao. Điều quan trọng khác là các yếu tố quan trọng như việc tăng giá xăng dầu, tăng giá điện vừa qua đã được các nhà làm chính sách đánh giá để xác định khả năng chịu đựng khi tăng giá.

Chẳng hạn như việc giá điện tăng trung bình khoảng 8,36%; tuy nhiên do mặt hàng này chỉ chiếm 3,5% trong rổ CPI của Việt Nam nên mức tăng như vậy thì chỉ khiến mức CPI tổng thể tăng 0,3%.

Với điểm sáng vĩ mô như vậy, ông Trung cho rằng, TTCK Việt Nam sẽ tiếp tục tích cực vì sau khi trải qua năm 2018 với khá nhiều rủi ro và giảm điểm, TTCK Việt Nam đã tăng điểm gần 10% trong đó nổi bật là hai nhóm điện và xăng dầu đã tăng khoảng 20%. 

Đi sâu vào phân tích hoạt động của DN trên TTCK Việt Nam, ông Nguyễn Quang Thuân - Tổng giám đốc FinGroup cho biết, sau thời gian tăng trưởng mạnh mẽ 2016-2017, lợi nhuận của khối DN đã giảm tốc trong 4 quý trở lại đây. Thống kê số liệu từ 878 DN niêm yết, không tính ngân hàng và bảo hiểm, chiếm 76% tổng vốn hóa toàn thị trường, tăng trưởng lợi nhuận và lợi nhuận hoạt động (EBIT) trong quý I/2019 đã suy giảm so với cùng kỳ năm trước đó. Doanh thu vẫn duy trì tăng trưởng mặc dù tốc độ tăng trưởng giảm nhẹ (5,1%) so với cùng kỳ. Lợi nhuận bằng tiền (EBITDA) cũng có sự suy giảm.

Đi vào lĩnh vực cụ thể, ông Thuân cho biết, hầu hết các đơn vị phân phối ô tô như Savico, HAX, và Công ty Auto đều có sự cải thiện về lợi nhuận trong quý I; song CSM và DRC đều suy giảm nhẹ về lợi nhuận. Với nhóm Dầu khí, PLX có kết quả kinh doanh khá tốt khi lợi nhuận tăng thêm hơn 300 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2018. Ngoài ra, PTSC cũng chứng kiến lợi nhuận cải thiện lớn sau nhiều năm trầm lắng. Riêng PVOIL lợi nhuận ròng quý I chỉ còn 31 tỷ đồng trong khi cùng kỳ là 184 tỷ đồng.

Nhìn sang ngành BĐS cho thấy kết quả kinh doanh đi xuống rất mạnh khi doanh thu và các chỉ số quan trọng về lợi nhuận của 81 DN ngành này đều suy giảm trong quý I/2019. Có 3 nguyên nhân chính tác động đến ngành này là chính sách siết tín dụng cho ngành này; hai là các chính sách liên quan như giá thuê đất tăng giá; thứ ba là chu kỳ/sản lượng bán hàng của DN BĐS giảm.

EBITDA ngành BĐS cũng suy giảm rất mạnh khi lợi nhuận bằng tiền ở mức âm 28,3% trong quý I/2019. Điển hình là VIC, VNM, VPL, FLC và NLG. Tuy nhiên nếu không tính Vinhome thì lợi nhuận ròng của 80 đơn vị còn lại ngành BĐS quý I/2019 lại tăng trưởng 24,5% nhờ sự cải thiện lợi nhuận của SDI, HDG, NVL, NLG.

Với nhóm ngân hàng, tăng trưởng tín dụng cũng đang giảm tốc, dự kiến trong năm 2019 dư nợ tín dụng cá nhân cũng giảm tốc sau thời gian tăng mạnh cùng với tín dụng tiêu dùng (bao gồm cả cho vay mua nhà và cho vay mua ô tô). Ông Thuân cho biết, trong năm 2018 và quý I/2019 ngân hàng có kết quả kinh doanh khá tích cực; NIM bình quân của 25 ngân hàng đạt hơn 3%, tăng trưởng nhẹ so với năm 2017.

Lợi nhuận ròng quý I/2019 của 17 ngân hàng tăng 12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập lãi thuần tăng 16%, dịch vụ tăng 47%, fx/vàng 42%, đầu tư chứng khoán giảm 68%, chứng khoán kinh doanh giảm 61%...

Tuy nhiên, theo ông Thuân, triển vọng lợi nhuận cả năm 2019 của các DN được dự báo là vẫn tốt. Dự báo EPS của 850 DN, không tính ngân hàng và bảo hiểm, chiếm 90% tổng vốn hóa có mức tăng trưởng 14,5% trong năm 2019 nhờ sự đóng góp của các DN lớn trong rổ VN30. Riêng VN30, dự kiến có tăng trưởng EPS ở mức 8,5% (theo kế hoạch của DN) và 17,7% ( theo dự báo của các CTCK).

“Theo dữ liệu lịch sử, tăng trưởng hay sụt giảm lợi nhuận hay hiệu quả hoạt động của DN về cơ bản trong ngắn hạn không ảnh hưởng lớn đến chỉ số chứng khoán. Do đó, việc đánh giá và theo dõi các yếu tố khác cũng như duy trì một chiến lược đầu tư hay lựa chọn nhóm cổ phiếu phù hợp sẽ quyết định đến hiệu quả đầu tư của NĐT”, ông Thuân cho hay.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.280
41.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.280
41.500
Vàng SJC 5c
41.280
41.520
Vàng nhẫn 9999
41.210
41.660
Vàng nữ trang 9999
40.700
41.500