13:49 | 18/07/2019

Cơ hội mới của DN chế biến thực phẩm

Xu hướng tiêu dùng mới của người dân thúc đẩy thị trường thực phẩm công nghiệp phát triển, là cơ hội lớn của DN

Theo Bộ Công thương, 3 năm trở lại đây, lượng thực phẩm người Việt tiêu thụ thường tăng 17%/năm và dự báo con số này sẽ là 18,6% trong những năm tới. Trong đó, việc tiêu thụ thực phẩm chế biến công nghiệp cũng tăng từ 6% - 9%/năm. Sự gia tăng này là do thói quen ăn uống của người tiêu dùng Việt đã thay đổi nhiều, các gia đình có cuộc sống bận rộn và thường chọn thực phẩm chế biến công nghiệp với lợi thế là có thể sử dụng nhanh chóng và tiện lợi. Đây chính là dư địa để các DN ngành thực phẩm chế biến công nghiệp Việt phát triển cả về quy mô, chủng loại sản phẩm đến hệ thống phân phối.

Ảnh minh họa

Bà Lê Thị Thanh Lâm, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Thực phẩm Sài Gòn cho biết, nhóm sản phẩm thực phẩm có hàm lượng chế biến sâu, giá trị dinh dưỡng cao, mẫu mã hấp dẫn, tiện dụng đang được người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng. Trong đó, được tiêu thụ nhiều nhất là các sản phẩm chế biến từ thủy sản (tôm, cá, nhuyễn thể); nông sản (gạo, cà phê, rau, trái cây, ngô, khoai…).

Nếu trước đây, người Việt thường chọn thực phẩm tươi sống rồi tự chế biến cho bữa cơm gia đình hàng ngày, thì hiện nay, thực phẩm chế biến công nghiệp (là những thực phẩm được chế biến sẵn, được bao gói và có thời hạn bảo quản trên 24 giờ) bắt đầu được dùng nhiều hơn, bởi nhóm sản phẩm này đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng về sự đa dạng và tiện lợi.

Tại Việt Nam, mỗi năm ước tính số lượng mặt hàng thực phẩm mới gia tăng là trên 1.500 mặt hàng. Điều này cho thấy, thực phẩm chế biến công nghiệp đang ngày càng trở nên quan trọng trong đời sống người Việt hiện đại. Và DN trong ngành thực phẩm chế biến cũng nhanh chóng nắm bắt nhu cầu, thị hiếu, gu ẩm thực mới của người tiêu dùng để gia tăng cả về số lượng, chủng loại và chất lượng sản phẩm thực phẩm chế biến công nghiệp.

Quan sát quầy thực phẩm công nghiệp tại các siêu thị, cửa hàng tiện lợi hiện nay có thể thấy, có đến vài trăm loại thực phẩm chế biến công nghiệp tiện dùng. Đến cả những sản phẩm tưởng chừng như không thể sản xuất công nghiệp (cháo thịt, trứng kho, giò heo hầm…) hiện cũng đã có những sản phẩm ăn ngay. Các DN trong lĩnh vực chế biến thực phẩm như Vissan, Saigon Food, Cholimex, Hạ Long… cũng vì thế mà ngày càng đầu tư sản xuất thêm nhiều loại thực phẩm chế biến với mục tiêu là mang đến cho người tiêu dùng bữa ăn chế biến sẵn tươi ngon, tự nhiên và tiết kiệm thời gian. Có thể thấy, DN Việt đang rất nhanh nhạy nắm bắt thị hiếu tiêu dùng thực phẩm của người dân.

Cụ thể như Công ty Ba Huân, trước đây chỉ kinh doanh sản phẩm trứng gia cầm sống, thì nay đã thêm vài chục sản phẩm chế biến từ gia cầm như gà viên, xúc xích gà, trứng gà tần… Công ty San Hà trước đây chỉ kinh doanh thịt gia cầm tươi sống, nay có thêm sản phẩm chế biến như cánh, đùi gà rán, thịt gà viên rán phô mai…

Công ty cổ phần Thực phẩm Cholimex có trên 150 loại bánh bột gạo chế biến từ nhiều loại thủy hải sản. Hay nhiều DN chế biến rau, trái cây khác như Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Dừa Bến Tre, Công ty cổ phần Xuất khẩu Đồng Giao… đều có vài trăm sản phẩm trái cây, rau quả đóng hộp. Chính vì thế, người tiêu dùng Việt hiện đã quen thuộc với các loại thực phẩm chế biến trong bữa ăn hàng ngày do tính tiện dụng và đa dạng chủng loại.

Bà Lý Kim Chi - Chủ tịch Hội Lương thực Thực phẩm TP. Hồ Chí Minh  cho biết, đến đầu năm 2019 cả nước có trên 5.500 DN, hộ sản xuất lương thực, thực phẩm. TP. Hồ Chí Minh có gần 2.000 DN đang hoạt động và chỉ riêng ngành chế biến lương thực, thực phẩm, đồ uống hiện chiếm tỷ trọng 19,15% giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành. Trong đó, nhóm sản phẩm chủ lực là thực phẩm chế biến đang phát triển khá tốt với mức tăng trưởng lần lượt trên 8%/năm.

Thực phẩm, đồ uống hiện đang chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu chi tiêu của người tiêu dùng Việt (chiếm 35% mức chi tiêu). Đây là cơ hội để DN trong ngành đẩy mạnh đầu tư trang thiết bị, dây chuyền sản xuất hiện đại đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng trong nước và hướng đến đưa sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.350
41.590
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.350
41.570
Vàng SJC 5c
41.350
41.590
Vàng nhẫn 9999
41.330
41.750
Vàng nữ trang 9999
40.770
41.570