13:23 | 26/09/2012

Cổ phiếu ngân hàng trên đà hồi phục?

Nhà đầu tư cần tận dụng cơ hội bởi trong thời gian tới rất có thể sẽ có làn sóng bán ra khá lớn khi áp lực thoái vốn của nhà đầu tư nước ngoài và từ những tín hiệu chưa tốt từ các doanh nghiệp trong nước.

Phục hồi kỹ thuật

Trong 1 tuần trở lại đây ACB và EIB là 2 cổ phiếu đáng chú ý bởi sau thời gian giảm giá dài thì quay trở lại tăng điểm. EIB tăng 3 phiên liên tiếp, từ mức đóng cửa 13.300 đồng/CP (ngày 20/9) lên 14.800 đồng/CP (ngày 25/9). Giá cổ phiếu ACB cũng tăng từ mức 15.400 đồng/CP lên 16.900 đồng/CP trong khoảng thời gian này. Trước đó, ngày 19/9, khối lượng cổ phiếu ACB đã có phiên khớp lệnh tăng đột biến, trong đó hơn 30 triệu cổ phiếu được giao dịch theo phương thức thỏa thuận, đưa tổng khối lượng giao dịch trong phiên 19/9 đạt 38 triệu cổ phiếu.


Ảnh: MH

Trong lĩnh vực bảo hiểm, BVH là mã cổ phiếu đáng chú ý nhất. Từ ngày 11/9, cổ phiếu này đã có quá trình tăng giá kéo dài đến 21/9 đạt đỉnh. Nếu 11/9, giá cổ phiếu này chỉ ở mức 24.900 đồng/CP, đến ngày 21/9, giá cổ phiếu này đã đạt 34.600 đồng/CP. Tuy nhiên, sau khi đạt đỉnh, giá cổ phiếu này đi ngang. Theo nhận định của các chuyên gia phân tích, sự tăng điểm này có chăng chỉ là hồi phục “kỹ thuật” sau thời gian dài giảm sâu. Bởi EIB giảm dài từ 20/8/2012 giảm từ 20.800 đồng/CP; 13.300 đồng/CP ngày 20/9.

Sau sự kiện bầu Kiên bị bắt, cổ phiếu ACB cũng giảm điểm khá dài. Nếu ngày 20/8 giá cổ phiếu này ở mức 25.900 đồng/CP, ngày 20/9 chỉ còn 15.400 đồng/CP. “Sau thời gian giảm dài vừa qua, cổ phiếu ACB đã phá ngưỡng hỗ trợ 18.100 đồng/CP trong vòng 2 năm trở lại đây”. Một chuyên gia phân tích cho rằng, về kỹ thuật, khi cổ phiếu giảm giá, phá ngưỡng hỗ trợ trong thời gian dài thì hàm ý rằng, sau ngưỡng hỗ trợ đấy là ngưỡng kháng cự. Và nay khi ACB tăng trở lại thì giá 18.100 đồng/CP trở thành ngưỡng kháng cự rất mạnh và khó có thể vượt qua được trong ngắn hạn.

Các nhà đầu tư (NĐT) đều cho rằng, khó có động lực giúp cổ phiếu ngân hàng tăng điểm, bởi khoảng 80% lợi nhuận của ngân hàng trông vào tăng trưởng tín dụng. Chỉ khi tăng trưởng tín dụng ổn định, lợi nhuận ngân hàng có xu hướng tăng lên thì cổ phiếu ngân hàng mới có động lực tăng điểm bền vững. Với tỷ trọng vốn hóa lớn trong rổ chỉ số, khi cổ phiếu ngân hàng tăng điểm, TTCK mới có động lực tăng điểm.

Một điểm nổi bật khác thu hút sự chú ý của các NĐT tuần qua là ngày thứ 6 (21/9) TTCK đã có 1 phiên tăng điểm mạnh. Theo đánh giá của giới chuyên môn, sở dĩ có hiện tượng này do đây là ngày cuối cùng các quỹ ETF chốt danh sách cổ phiếu. “Tăng điểm đó chỉ đơn giản bởi có sự bất thường về kỹ thuật”, một nhà phân tích cho biết.

Kỳ vọng từ làn sóng bán ra

Đây là lý do khiến những con sóng bất thường thời gian qua không đủ để xua tan bầu không khí ảm đạm trên TTCK. Sự trầm lắng của thị trường tiếp tục kéo dài khi phiên giao dịch ngày 25/9, VN-Index đóng cửa tăng nhẹ 0,36% tại 391,77 điểm, khối lượng giao dịch 23,4 triệu cổ phiếu. Toàn sàn có 93 mã tăng, 70 mã tham chiếu, 111 mã giảm. HNX-Index giảm 0,43%, đóng cửa ở 56,22 điểm, khối lượng 16,9 triệu cổ phiếu. Toàn sàn có 69 mã tăng, 78 mã tham chiếu, 106 mã giảm. Nhìn chung đa phần các cổ phiếu giao dịch mở mức thấp và biến động ở biên độ hẹp. TTCK đang giao dịch ở vùng đáy, chỉ số HNX-Index quanh khu vực đáy lịch sử 55-56 điểm được thiết lập từ đầu năm 2012.

Theo Công ty chứng khoán VPBS, thanh khoản ở mức thấp trên cả hai sàn cho thấy, tâm lý NĐT đang khá thận trọng với thị trường. Một phần có thể xuất phát từ việc chỉ số CPI cả nước tháng 9 đột nhiên tăng mạnh 2,2% so với tháng 8, tăng 6,48% so với cùng kỳ 2011. Trước đó, CPI tháng 8 chỉ tăng 0,63% so với tháng trước. Việc CPI tháng 9 tăng mạnh trong khi tăng trưởng tín dụng tính đến 7/9/2012 chỉ đạt 1,82% cho thấy nguyên nhân dẫn đến sự tăng trở lại của lạm phát không phải xuất phát chủ yếu từ yếu tố tiền tệ mà từ yếu tố chi phí đẩy. Nếu điều này tiếp tục diễn ra trong thời gian tới, thì khó khăn hiện tại của người dân, doanh nghiệp sẽ chưa có sự cải thiện, nền kinh tế khi đó sẽ đối mặt với áp lực lớn từ phía lạm phát trong khi tăng trưởng cũng gặp nhiều khó khăn. Trong ngắn hạn, sự cân bằng giữa lực cung và lực cầu có thể sẽ khiến thị trường bước vào một giai đoạn đi ngang trong biên độ hẹp.

Trong bối cảnh như vậy, các chuyên gia phân tích khuyến cáo NĐT nên tiếp tục theo dõi thị trường, chờ đợi cơ hội giải ngân khi thị trường có những tín hiệu tích cực. Với NĐT dài hạn nên lựa chọn cổ phiếu của những ngành nghề kinh doanh ít bị ảnh hưởng khi nền kinh tế khó khăn như năng lượng, sản xuất hàng tiêu dùng, dược phẩm… Tuy nhiên, NĐT cũng cần tận dụng cơ hội bởi trong thời gian tới rất có thể sẽ có làn sóng bán ra khá lớn khi áp lực thoái vốn của NĐT nước ngoài và từ những tín hiệu chưa tốt từ các doanh nghiệp trong nước.

Trần Hương

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.120 23.270 25.168 26.002 27.630 28.073 210,85 219,15
BIDV 23.150 23.270 25.168 25.893 27.633 28.103 215,64 221,15
VietinBank 23.144 23.274 25.137 25.932 27.562 28.202 215,14 221,14
Agribank 23.135 23.240 25.178 25.568 27.651 28.115 215,58 219,53
Eximbank 23.150 23.260 25.202 25.551 27.757 28.140 216,54 219,53
ACB 23.145 23.265 25.165 25.511 27.765 28.077 216,42 219,41
Sacombank 23.117 23.277 25.159 25.611 27.734 28.138 215,60 220,16
Techcombank 23.148 23.288 25.973 25.964 27.437 28.328 215,04 222,32
LienVietPostBank 23.135 23.255 25.131 25.600 27.766 28.186 215,97 219,96
DongA Bank 23.150 23.230 25.230 25.550 27.760 28.130 213,10 219,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.600
41.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.600
41.950
Vàng SJC 5c
41.600
41.970
Vàng nhẫn 9999
41.550
42.050
Vàng nữ trang 9999
41.150
41.950