09:45 | 11/09/2013

Cơ sở pháp lý cho VAMC “xử” nợ xấu

NHNN vừa ban hành Thông tư 19/2013/TT-NHNN (TT 19) quy định mua, bán, xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) và Thông tư 20/2013/TT-NHNN (TT20) quy định về cho vay tái cấp vốn trên cơ sở trái phiếu đặc biệt (TPĐB) của VAMC. Sau Nghị định 53/2013/NĐ–CP đây là những cơ sở pháp lý để VAMC “xử” nợ xấu một cách triệt để hơn.

Ảnh minh họa

Nợ được bán và nợ phải bán

Một trong những điểm nhấn trong hoạt động VAMC là công ty này mua nợ không phải bằng tiền mặt mà qua phát hành TPĐB. Theo TT 19, TPĐB được phát hành có giá trị tương ứng với một khoản nợ xấu được mua bán. Trong trường hợp khoản nợ xấu được mua – bán là khoản cấp tín dụng hợp vốn, thì VAMC phát hành TPĐB cho từng TCTD tham gia cấp tín dụng hợp vốn tương ứng với giá trị ghi sổ số dư nợ gốc của khoản nợ xấu sau khi khấu trừ số tiền dự phòng. Cụ thể, số tiền này đã trích lập, chưa sử dụng cho khoản nợ xấu đó và đang được theo dõi tại TCTD tham gia cấp tín dụng hợp vốn.

VAMC sẽ lên phương án phát hành TPĐB và trình NHNN xem xét phê duyệt. Ví dụ có thể từ nay đến cuối năm, VAMC dự kiến phát hành 30 nghìn tỷ đồng TPĐB và chia làm 3 đợt mỗi đợt phát hành 10 nghìn tỷ đồng. Việc xây dựng lộ trình như vậy, theo lãnh đạo VAMC sẽ giúp Công ty chủ động mua nợ cũng như các TCTD biết được khả năng mua nợ của VAMC đến đâu. Bên cạnh đó, việc phát hành TPĐB cũng sẽ căn cứ định hướng điều hành chính sách tiền tệ, mục tiêu xử lý nợ xấu trong từng thời kỳ… Do vậy, NHNN sẽ xem xét sửa đổi, bổ sung, thay thế thậm chí có thể hủy bỏ phương án phát hành TPĐB khi cần thiết.

Vậy những khoản nợ xấu như thế nào có thể bán cho VAMC? Theo TT 19, các khoản nợ xấu trong hoạt động cấp tín dụng gồm cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán và các khoản nợ xấu theo quy định của NHNN; khoản mua trái phiếu DN chưa niêm yết trên thị trường chứng khoản hoặc chưa đăng ký giao dịch; khoản nợ xấu có tài sản đảm bảo… Những khoản nợ xấu mà VAMC mua lại của khách hàng cá nhân vay vào thời điểm bán nợ không được thấp hơn 1 tỷ đồng, còn với nhóm khách hàng và khách hàng vay là tổ chức tối thiểu phải là 3 tỷ đồng.

Trong trường hợp đặc biệt, nếu khoản nợ xấu của TCTD không đáp ứng đủ các điều kiện để VAMC mua theo TT 19, NHNN sẽ xem xét trình Thủ tướng quyết định việc VAMC mua lại các khoản nợ trên nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của các TCTD và xử lý nhanh nợ xấu.

Riêng đối với các TCTD có tỷ lệ nợ xấu từ 3% so với tổng dư nợ trở lên là đối tượng bắt buộc phải bán nợ cho VAMC. Nếu TCTD nào không bán nợ, NHNN sẽ áp dụng các biện pháp quy định tại khoản 5 Điều 14 Nghị định số 53/2013/NĐ-CP. Trên cơ sở kết quả thanh tra, định giá, kiểm toán độc lập, NHNN yêu cầu các TCTD phải bán nợ cho VAMC. Thậm chí có thể áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định pháp luật để đảm bảo nợ xấu ở mức an toàn.

VAMC cũng phải trích lập dự phòng rủi ro

Theo Quy định tại TT 19 khi bán nợ xấu theo giá thị trường, VAMC phải định giá hoặc thuê tổ chức có chức năng định giá độc lập xác định giá trị khoản nợ xấu. Khi khoản nợ xấu nào đó đã được bán cho VAMC thì Công ty sẽ kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ. Do đó, trong quá trình thực hiện, VAMC sẽ xem xét điều chỉnh lãi suất đang áp dụng đối với các khoản nợ xấu về mức hợp lý phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng vay…

Ngoài ra, VAMC cũng có thể giảm một phần hoặc miễn toàn bộ lãi phạt, phí, lãi vay đã quá hạn thanh toán mà khách hàng vay cam kết trả nợ trong vòng 60 ngày với mức tối thiểu 5% số dư nợ gốc khách hàng vay chưa trả.

Để đảm bảo an toàn hoạt động VAMC, TT 19 quy định, TCTD bán nợ phải trích lập dự phòng rủi ro đối với TPĐB vào chi phí hoạt động. Hệ số rủi ro của TPĐB là 20% khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của TCTD. Hay nói cách khác hàng năm TCTD phải trích lập dự phòng rủi ro (DPRR) cho TPĐB không thấp hơn 20%. Như vậy đảm bảo sau 5 năm khoản nợ xấu sẽ được trích lập đầy đủ. Số tiền trích lập DPRR bằng mệnh giá/thời hạn của TPĐB.

Theo quy định TT 19, VAMC phải thực hiện việc phân loại, trích lập và sử dụng DPRR để xử lý đối với số tiền đã thanh toán mua khoản nợ xấu. Ngoài ra, VAMC có trách nhiệm phân loại số tiền đã thanh toán để mua khoản nợ xấu vào nhóm có mức độ rủi ro không thấp hơn nhóm nợ mà khoản nợ xấu đó đã được phân loại tại TCTD bán nợ.

Tại sao lại có quy định như vậy, theo lãnh đạo VAMC, khi Công ty mua các khoản nợ xấu theo giá thị trường coi như một khoản đầu tư nên phải phân loại như TCTD. Do đó trước khi bán, TCTD xếp món nợ đó vào nhóm nợ nào thì VAMC đưa trích lập DPRR vào nhóm tương ứng.

“Đã mua theo giá thị trường thì phải tính DPRR đảm bảo an toàn. Ở đây nên hiểu VAMC trích DPRR chứ không có nghĩa khoản nợ xấu đó đã “mất” hoàn toàn. Bởi khi bán đi, về nguyên tắc VAMC phải bán với giá có lãi hoặc ít nhất hòa vốn. Quan trọng hơn là việc trích lập để VAMC cũng có trách nhiệm đối với khoản mua với giá thị trường đảm bảo an toàn vốn” – lãnh đạo VAMC cho biết.

Nợ xấu có thể thành vốn góp cổ phần

Nếu TT 19 là cơ sở cho giao dịch mua bán nợ xấu thì TT 20 là những quy định ràng buộc trách nhiệm của các TCTD khi đã bán nợ xấu. Mục đích của TT 20 là nhằm NHNN hỗ trợ nguồn vốn hoạt động cho các TCTD trong quá trình xử lý nợ xấu theo Nghị định số 53. Thông tư này nêu rõ, NHNN xem xét và quyết định tái cấp vốn khi TCTD mang TPĐB đến NHNN. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng đối với TCTD 100% vốn nước ngoài, TCTD liên doanh, TCTD bị kiểm soát đặc biệt.

Mức tái cấp vốn đối với TCTD trên cơ sở mệnh giá TPĐB do Thống đốc NHNN quyết định căn cứ vào mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, kết quả trích lập DPRR đối với TPĐB và kết quả xử lý nợ xấu, nhưng không vượt quá 70% so với mệnh giá TPĐB.

TT 20 cũng quy định lãi suất tái cấp vốn đối với TCTD do Thủ tướng Chính phủ quyết định trong từng thời kỳ. Nếu các TCTD không trả nợ đúng hạn, lãi suất tái cấp vốn quá hạn sẽ được tính bằng 150% lãi suất tái cấp vốn ghi trên hợp đồng tín dụng giữa NHNN và TCTD. Thời hạn tái cấp vốn tối thiểu dưới 12 tháng, song NHNN có thể xem xét, quyết định gia hạn tái cấp vốn đối với TCTD. Thời gian gia hạn mỗi lần không vượt quá thời hạn tái cấp vốn lần đầu của khoản tái cấp vốn đó.

Trong trường hợp TCTD không trả được nợ vay tái cấp vốn, có thể chuyển quyền sở hữu các giấy tờ có giá được sử dụng trong các giao dịch với NHNN. Hay nói cách khác là các TCTD bán các loại giấy tờ có giá mà họ đang nắm giữ cho NHNN để trả nợ.

Khi đã “xoay” hết cách được phép, mà TCTD vẫn không trả được nợ và không được gia hạn nợ, NHNN sẽ yêu cầu VAMC sử dụng số tiền thu hồi mà TCTD được hưởng từ các khoản nợ xấu mua bằng TPĐB để trả nợ vay tái cấp vốn cho NHNN. Và, VAMC có quyền chuyển khoản tái cấp vốn thành khoản cho vay đặc biệt hoặc thành khoản góp vốn, mua cổ phần của NHNN tại TCTD. Như vậy, NHNN sẽ nắm giữ quyền chi phối tại các TCTD “chây ì” trả nợ.

Lãnh đạo VAMC cho biết, cơ quan này đang rà soát lại văn bản để kịp thời ban hành quy chế hoạt động của VAMC ngay sau khi hai Thông tư trên có hiệu lực vào ngày 16/9 tới đây. Thời gian qua cũng có một số TCTD chủ động đặt vấn đề bán nợ cho VAMC. Song cả hai bên đang đợi khi các Thông tư này có hiệu lực cũng như quy chế hoạt động của VAMC được ban hành để “bắt tay” xử lý nợ xấu.

Ông Nguyễn Đức Hưởng - Phó Chủ tịch thường trực LienVietPost Bank

“Đấu giá nợ: Có cung ắt có cầu”

Việc chúng ta kịp thời đấu giá nợ qua VAMC sẽ giúp dòng chảy vốn thông suốt hơn. Tôi được biết có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến những tài sản nợ này. Hơn nữa, những khoản nợ đưa về VAMC đều được chọn lọc kỹ, đây toàn là tài sản tốt có thể bán được. Do vậy, không chỉ nhà đầu tư nước ngoài, các tổ chức lớn mà ngay cả những ngân hàng khác cũng sẽ nghiên cứu, cân nhắc trong việc mua lại tài sản nợ có khả năng sinh lời để đầu tư.

Xét về mặt rủi ro, tôi thấy không nhiều vì việc đấu giá nợ này không lo, kinh nghiệm chúng ta đã có những nước như Nhật Bản, Malaysia từng làm và họ đã giải quyết rất tốt để giúp cho cả ngân hàng, DN và nhà đầu tư trong vấn đề thu hồi nợ/sinh lời từ món nợ.

Mặt khác, khi đưa ra công khai đấu giá, nhà đầu tư sẽ yên tâm mua bán và nếu VAMC có thể đưa ra nhiều món hàng khác nhau, chi phí cho từng món cũng được tính toán khác nhau. Cuối cùng, sự lựa chọn nhiều sẽ làm tăng tính hấp dẫn của thị trường nợ.

Quỳnh Chi

Huyền Thanh

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.265 23.385 25.955 26.714 29.234 29.702 208,02 216,21
BIDV 23.265 23.385 26.074 26.817 29.221 29.722 212,72 218,11
VietinBank 23.256 23.386 26.080 26.815 29.163 29.803 213,03 219,53
Agribank 23.275 23.365 26.102 26.500 29.272 29.754 212,37 216,22
Eximbank 23.260 23.370 26.090 26.449 29.328 29.732 213,56 216,51
ACB 23.255 23.375 26.113 26.472 29.395 29.725 213,84 216,78
Sacombank 23.227 23.380 26.101 26.562 29.358 29.764 212,85 217,40
Techcombank 23.240 23.380 25.840 26.703 28.988 29.865 212,03 219,31
LienVietPostBank 23.250 23.370 26.026 26.507 29.355 29.793 213,07 217,02
DongA Bank 23.280 23.370 26.110 26.420 29.340 29.710 210,10 216,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
37.300
37.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
37.300
37.600
Vàng SJC 5c
37.300
37.620
Vàng nhẫn 9999
37.320
37.920
Vàng nữ trang 9999
37.000
37.600