15:32 | 10/07/2018

Có thể tạm ngừng trích lập Quỹ bình ổn để giảm giá xăng dầu

Đó là chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá của Chính phủ tại cuộc họp đánh giá tình hình 6 tháng đầu năm và phương hướng điều hành trong những tháng còn lại của năm 2018.

Diễn biến lạm phát không bất thường

Tại cuộc họp, Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) nhấn mạnh diễn biến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 6 tháng đầu năm biến động tương đối sát với dự báo trước đó của các cơ quan liên quan.

Theo đó, tại phiên họp ngày 29/5 của Ban Chỉ đạo, nhóm giúp việc dự báo CPI tháng 6 tăng khoảng 0,43- 0,85% và thực tế CPI tháng 6 chỉ tăng 0,61% (chịu tác động tăng chính do giá thịt lợn tăng, khoảng 0,34%).

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ phát biểu tại cuộc họp. Ảnh: VGP/Thành Chung

Theo Cục Quản lý giá, các nhân tố gây tăng giá trong nửa đầu năm 2018 chủ yếu xuất phát từ yếu tố thị trường, hầu như không có yếu tố tăng giá mới xuất hiện từ công tác điều hành của Chính phủ.

Trước tình hình lạm phát có dấu hiệu tăng cao, Chính phủ đã chỉ đạo không tăng giá điện trong năm nay, giữ ổn định các mặt hàng do Nhà nước định giá trong tháng 6, tiếp tục rà soát để đẩy nhanh các mặt hàng có khả năng giảm (giá thuốc, giá vật tư y tế thông qua đấu thầu), quyết liệt triển khai biện pháp bình ổn giá các mặt hàng có xu hướng tăng cao,...

Phát biểu tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhận định lạm phát tháng 6/2018 không có gì bất thường. Nếu loại trừ yếu tố giá thịt lợn tăng mạnh nhất thì lạm phát tháng này chỉ tăng 0,27%, có thể coi là mức tăng lạm phát thấp so với cùng tháng các năm trước.

Theo Phó Thủ tướng, ở đây không có yếu tố lạm phát theo chu kỳ hay do điều hành vĩ mô.

Về chính sách tiền tệ, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, lãi suất cơ bản vẫn ở mức thấp (1,35%) và tăng trưởng tín dụng cả năm 2018 chỉ 17%, thấp hơn chỉ tiêu của năm 2017, còn trong 6 tháng đầu năm, tín dụng vẫn tăng thấp hơn cùng kỳ năm ngoái.

Bên cạnh đó, cả nước đang xuất siêu 2,7 tỷ USD, thặng dư cán cân thanh toán, lãi suất ổn định nên không phải là nguyên nhân làm tăng tỷ giá bất thường.

Cục Quản lý giá và Tổng cục Thống kê cũng độc lập đưa ra 2 kịch bản điều hành giá trong những tháng cuối năm, theo đó, cả hai kịch bản đều bảo đảm lạm phát tăng cao nhất cũng chỉ khoảng 4%.

Tăng thuế môi trường xăng dầu có lộ trình

Chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu Bộ Y tế, Bảo hiểm Xã hội ngay trong năm 2018 tiếp tục tổ chức đấu thầu thuốc chữa bệnh, vật tư y tế theo các chỉ đạo trước đây của Ban Chỉ đạo; giao Bộ Tài chính làm "trọng tài" để Bộ Y tế và Bảo hiểm Xã hội rà soát, tiếp tục điều chỉnh giá dịch vụ y tế trong thời gian tới.

Đối với giá dịch vụ công do Nhà nước định giá, trong tháng 9 đã điều chỉnh tăng 0,07% học phí thì phải tính toán kỹ điều chỉnh các mặt hàng khác trong tháng này; chưa tính toán điều chỉnh giá dịch vụ y tế từ nay tới hết tháng 9.

Về các loại giá liên quan tới thị trường, các bộ, ngành điều hành thông qua dự báo sát cung cầu, có tính toán tới các ảnh hưởng của thiên tai.

Ví dụ với giá xăng dầu, Phó Thủ tướng đồng tình với phương án chia giai đoạn tăng thuế bảo vệ môi trường, tăng cường sử dụng Quỹ Bình ổn để giảm giá xăng, hoặc có thể ngừng trích lập Quỹ bình ổn xăng dầu trong một thời gian để góp phần giảm giá xăng dầu; giao Bộ Công Thương xây dựng Đề án giảm thuế đối với nhiên liệu sinh học.

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu NHNN điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khoá và các chính sách vĩ mô khác để kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, không để xảy ra việc tác động tăng lạm phát “kép” đến từ việc tăng tỷ giá và giá xăng dầu thế giới.

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho rằng Bộ Giao thông vận tải cần rút kinh nghiệm xem xét lại cách điều hành giá vé hàng không trong thời gian qua, không để thời điểm điều chỉnh giá vé trong lúc người dân đi lại nhiều và đưa nội dung điều chỉnh giá vé hàng không, vé xe bus vào phương án kiểm soát giá của Bộ.

Đối với giá thịt lợn, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tính toán, điều hành cung cầu thịt lợn từ nay tới cuối năm bảo đảm các chỉ tiêu về sản lượng, giá cho từng tháng từ nay tới cuối năm như các mặt hàng khác. “Bộ cần có báo cáo riêng về điều hành giá thịt lợn”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Trưởng Ban Chỉ đạo cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tăng cường truyền thông, cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời trên các phương tiện thông tin, không để xảy ra lạm phát tâm lý...

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.160 23.260 26.112 26.845 30.423 30.910 201,51 209,46
BIDV 23.160 23.260 26.096 26.476 30.434 30.929 206,04 209,67
VietinBank 23.145 23.255 26.096 26.821 30.417 31.057 206,20 212,70
Agribank 23.155 23.250 26.085 26.460 30.440 30.907 205,96 209,71
Eximbank 23.150 23.250 26.095 26.444 30.540 30.949 206,86 209,63
ACB 23.170 23.250 26.119 26.456 30.634 30.952 206,97 209,64
Sacombank 23.106 23.268 26.111 26.516 30.580 30.985 206,00 210,57
Techcombank 23.140 23.260 25.871 26.596 30.239 31.101 205,03 210,49
LienVietPostBank 23.140 23.240 25.925 26.533 30.540 31.143 205,30 210,16
DongA Bank 23.170 23.240 26.130 26.450 30.550 30.940 203,50 209,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.520
36.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.520
36.670
Vàng SJC 5c
36.520
36.690
Vàng nhẫn 9999
36.490
36.890
Vàng nữ trang 9999
36.120
36.720