09:15 | 17/04/2019

Có thể tiếp tục xu thế giằng co, đi ngang

Đóng cửa phiên giao dịch ngày 16/4, chỉ số VN-Index giảm 5,73 điểm (0,58%) xuống 977,17 điểm; HNX-Index giảm 0,55% xuống 107,11 điểm và UPCoM-Index giảm 0,24% xuống 56,51 điểm. Thanh khoản thị trường tăng lên đôi chút với giá trị giao dịch 3.900 tỷ đồng nhưng nhìn chung khá thấp so với các phiên trước đây.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 16/4
Chứng khoán chiều 16/4: Nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn thu hẹp đà giảm

Điểm đáng quan sát của thị trường trong phiên chính là so với mức giảm mạnh tới 11 điểm vào phiên sáng, cuối phiên giao dịch chiều, các Bluechips như: VNM, SAB, VJC, HAG, EIB, BID đã tăng điểm, cũng như bộ 3 VIC, VHM, VRE hồi phục mạnh đã giúp thị trường thu hẹp đáng kể.

Ảnh minh họa

Trong đó, VIC từ mức giảm gần 5% trong phiên sáng đã hồi phục mạnh và chỉ còn kém mức giá tham chiếu 100 đồng. Các cổ phiếu bất động sản, xây dựng, chứng khoán, ngân hàng, dầu khí, dệt may… dù vẫn giảm điểm, nhưng mức giảm cũng được thu hẹp đáng kể. Nhóm thủy sản có diễn biến tích cực hơn thị trường chung với nhiều mã tăng điểm như ACL, AGF, CMX, VHC…

Giao dịch khối ngoại trở thành điểm sáng đáng chú ý khi mua ròng trên cả 3 sàn với tổng giá trị 235 tỷ đồng. Trong đó, lực mua tập trung chủ yếu vào VIC (43,6 tỷ đồng), BID (27,7 tỷ đồng), HDB (19 tỷ đồng), E1VFVN30 (15,7 tỷ đồng)…

Bà Đinh Thái Huyền Trang - Trưởng nhóm phân tích Công ty Chứng khoán Artex cho rằng, diễn biến tâm lý khá bất ổn của nhà đầu tư diễn ra trong phiên có thể xuất phát từ những thông tin bất lợi liên quan đến các doanh nghiệp họ Vin. Lệnh bán ồ ạt tại nhóm cổ phiếu họ Vin (VIC, VHM và VRE) - những trụ cột của thị trường, đã lan ra cả thị trường. Đến phiên giao dịch chiều, sự hồi phục của thị trường chứng khoán khu vực đã phần nào giúp tâm lý nhà đầu tư bớt bi quan hơn. Tuy nhiên, dòng tiền vào thị trường vẫn tỏ ra khá thận trọng khiến thanh khoản tiếp tục duy trì ở mức thấp.

“Mặc dù, ngưỡng hỗ trợ 960-965 điểm của VN-Index vẫn chưa bị phá vỡ nhưng trong bối cảnh thiếu thông tin hỗ trợ, dòng tiền có xu hướng rút ra khỏi thị trường sẽ khiến tâm lý thị trường yếu dần. Khả năng điều chỉnh về các vùng giá thấp hơn vẫn có mức rủi ro cao. Do vậy, nhà đầu tư nên giữ tỷ trọng cổ phiếu ở mức an toàn để phòng ngừa các rủi ro ngắn hạn có thể xảy ra”, bà Trang khuyến cáo.

Trước đó, Công ty Chứng khoán Bảo Việt cũng (BVSC) cũng đã chỉ ra rằng, trên khung thời gian tuần, chỉ báo ADX (là chỉ số định hướng trung bình, nhằm đo lường độ mạnh của xu hướng mà không quan tâm đến hướng của xu hướng. Chỉ số ADX được tính toán dựa trên mức trung bình động của sự dao động giá trong một khoảng thời gian nhất định thường là 14 ngày) tiếp tục suy giảm cùng với sự thắt hẹp của dải BB diễn ra trong bối cảnh các chỉ báo kỹ thuật (MACD, STO...) đang phát đi các tín hiệu không đồng nhất. Điều này phần nào hàm ý thị trường có thể sẽ còn kéo dài xu thế biến động đi ngang trong thời gian tới.

Trên đồ thị ngày, các chỉ báo động lượng phát ra tín hiệu đồng nhất hơn khi cùng duy trì xu hướng đi xuống và nằm dưới đường tín hiệu. Những tín hiệu trên cho thấy thị trường sẽ vẫn phải đối mặt với áp lực điều chỉnh trong những phiên đầu tuần.

VN-Index sẽ nhận được sự hỗ trợ từ các vùng hỗ trợ 975-981 điểm và 965-970 điểm. Đây cũng là các vùng điểm được kỳ vọng sẽ giúp thị trường hồi phục tăng điểm trở lại. Trong kịch bản thị trường hồi phục, vùng kháng cự tâm lý quanh 1.000 điểm sẽ vẫn tạo ra lực cản đáng kể lên đà tăng điểm của chỉ số.

Công ty Chứng khoán BSC cũng cho rằng, động lực tăng điểm không rõ ràng VN-Index điều chỉnh giảm sau khi chạm 1.000 điểm và hình thành 3 cây nến doji trên ngưỡng 980 điểm. Khối lượng giao dịch giảm sút, các chỉ báo kỹ thuật đi ngang trong khi VN-Index chưa thể vượt SMA20.

BSC cũng lưu ý, VN-Index đang vận động trong mô hình V-Đ-V sau khi không thể vượt qua ngưỡng cản 1.000 điểm. 980 điểm là ngưỡng hỗ trợ ngắn hạn, tuy nhiên 970 là đường neckline của mô hình với mục tiêu giá giảm về 940-950 điểm khi giảm dưới đường neckline. Thanh khoản có tuần thứ 3 liên tiếp giảm và đã thấp hơn khối lượng giao dịch bình quân của 20 tuần. VN-Index vẫn đang nằm trong vùng tích lũy đỉnh 970-1.100 điểm dù vậy động lực tăng giá yếu. Diễn biến giằng co còn tiếp tục trước khi xác lập xu hướng rõ ràng hơn.

Trong ngắn hạn, BSC tiếp tục lưu ý về mô hình vai-đầu-vai khi VN-Index không thể vượt ngưỡng tâm lý 1.000 điểm và suy yếu nhanh về dưới 970 điểm. Một sự vận động vượt quá cận trên hoặc dưới trong khoảng giá hẹp từ 980-1.000 điểm sẽ là cảnh báo sớm về một sự vận động tăng hoặc giảm, thoát khỏi thế giằng co hiện tại.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700