16:30 | 02/01/2019

Công nghiệp Trung Quốc: Lợi nhuận lần đầu suy giảm

Theo dữ liệu thống kê công bố mới nhất, mức độ tăng thu nhập của các công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp đã suy giảm lần đầu tiên trong vòng 3 năm gần đây trước xu hướng suy yếu của kinh tế trong nước và sự giảm sút nhu cầu từ bên ngoài...

Tỷ lệ thất nghiệp thấp - tín hiệu tốt hay xấu?
Trung Quốc tham vấn thương mại trực tiếp với Mỹ

Thực tế này đang làm nổi lên như rủi ro gia tăng đối với nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Nhiều CEO của các công ty lớn nhận thấy các dữ liệu kinh tế ảm đạm gần đây cho thấy động lực tăng trưởng của nền kinh tế đã suy yếu trong bối cảnh căng thẳng thương mại với nước Mỹ. Điều đó đang tạo áp lực đối với khu vực sản xuất và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, họ phải gác lại các kế hoạch đầu tư và cần phải sẵn sàng đương đầu với một năm đầy khó khăn ở phía trước.

Ảnh minh họa

Dữ liệu kinh tế được công bố bởi Tổng cục Thống kê Trung Quốc cho thấy, lợi nhuận lĩnh vực công nghiệp đã giảm 1,8% trong tháng 11, đạt 594,8 tỷ nhân dân tệ, tương đương 86,33 tỷ USD - ghi nhận mức lợi nhuận theo tháng trong lĩnh vực công nghiệp giảm lần đầu tiên kể từ tháng 12/2015. T

ính chung 11 tháng, so với cùng kỳ năm ngoái lợi nhuận trong lĩnh vực này tăng 11,8%, đạt 6,1 nghìn tỷ nhân dân tệ - mức tăng này đã chậm lại so mức tăng của 10 tháng là 13,6%. Theo đó, lợi nhuận của các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực công nghiệp của Trung Quốc đã tăng 16,1%, đạt 1,8 nghìn tỷ Nhân dân tệ trong 11 tháng, mức tăng này cũng đã chậm lại so với con số 20,6% trong 10 tháng.

Bên cạnh đó, lợi nhuận của các ngành công nghiệp chủ chốt như ngành khai thác dầu thô, than đá và khai khoáng kim loại cũng đã giảm nhẹ trong tháng 11, cụ thể lợi nhuận của ngành khai thác dầu mỏ đã tăng 333% trong 11 tháng nhưng cũng đã giảm đáng kể từ mức tăng 371% trong 10 tháng. Kết thúc tháng 11, các khoản nợ của các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp đã tăng 5,8%, ở mức 64,6%.

Trong thực tế, tăng trưởng thu nhập trong lĩnh vực công nghiệp đã có dấu hiệu thiếu tích cực kể từ tháng 4 năm nay khi giá cả hàng hóa tăng chậm lại trước áp lực tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Bên cạnh đó, căng thẳng thương mại với Mỹ đã đặt ra nhiều áp lực đối với nhu cầu và sản lượng đầu ra – một đòn tác động mạnh các kế hoạch đầu tư. Lợi nhuận trong lĩnh vực này suy giảm trong tháng chủ yếu là do sự tăng trưởng chậm lại của doanh thu và giá bán sản phẩm trong khi chi phí sản xuất đang gia tăng. Và các nhà kinh tế dự báo rằng lợi nhuận sẽ tiếp tục suy yếu trong năm tới.

Ông Jiang Ming – Chủ tịch Tập đoàn Tianming kinh doanh trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe - xây dựng - tài chính tại Hà Nam cho biết, duy trì hoạt động là điều quan trọng nhất đối với tập đoàn của họ trong năm tới, DN sẽ phải thận trọng hơn đối với các khoản đầu tư, đồng thời cũng cần phải duy trì dòng tiền tốt và tiết kiệm nguồn lực để đương đầu với những khó khăn ở phía trước.

Diễn biến này hiện cũng đang đóng góp vào áp lực ngày càng tăng đối với nền kinh tế Trung Quốc. Thực tế này đã buộc Chính phủ phải tăng cường đưa ra các biện pháp để kích cầu. Trong một hội nghị kinh tế thường niên được tổ chức vào cuối năm, các nhà lãnh đạo hàng đầu của Trung Quốc đã tuyên bố rằng chính phủ sẽ tăng cường hỗ trợ nền kinh tế vào năm 2019 thông qua việc cắt giảm thuế và duy trì thanh khoản dồi dào cũng như cam kết thúc đẩy các cuộc đàm phán thương mại với Mỹ.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.580 26.485 29.483 29.985 205,48 219,80
BIDV 23.145 23.265 25.654 26.405 29.550 30.112 207,71 214,54
VietinBank 23.136 23.266 25.577 26.412 29.450 30.090 210,59 216,59
Agribank 23.145 23.255 25.487 25.879 29.437 29.920 210,88 214,73
Eximbank 23.140 23.250 25.598 25.952 29.595 30.004 211,83 214,76
ACB 23.130 23.255 25.607 25.960 29.652 29.985 212,03 214,95
Sacombank 23.103 23.263 25.611 26.063 29.639 30.044 211,06 215,58
Techcombank 23.134 23.274 25.364 26.360 29.277 30.200 210,41 217,59
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.536 26.011 29.626 30.065 211,35 215,28
DongA Bank 23.160 23.250 25.620 25.940 29.590 29.990 208,40 214,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.470
41.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.470
41.750
Vàng SJC 5c
41.470
41.770
Vàng nhẫn 9999
41.470
41.920
Vàng nữ trang 9999
40.950
41.750