13:51 | 06/04/2015

Dài hạn sẽ tốt cho thị trường

Một số chuyên gia tài chính nhận định Thông tư 36 quy định giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn cho TCTD sẽ giúp cho DN đa dạng nguồn vốn tài trợ vay nợ đầu tư cổ phiếu.

Ảnh minh họa

Dự báo từ quý II/2015, nguồn hàng dành cho NĐT chứng khoán dồi dào và đa dạng hơn nhờ những kế hoạch cổ phần hóa DN đã có nhiều kết quả. Tuy nhiên, nguồn vốn vay từ NH cho mục đích đầu tư có thể sụt giảm khiến nhiều NĐT trực tiếp và gián tiếp nản lòng.

Nếu lấy số liệu thống kê của NHNN Việt Nam, tổng vốn điều lệ toàn hệ thống NH đến 31/11/2014 là 435.287 tỷ đồng. Nếu theo quy định giới hạn của Thông tư 36 và trường hợp mọi NH đều đủ điều kiện cho vay đầu tư chứng khoán thì tổng vốn khả dụng có thể tung ra thị trường ước khoảng 21.764 tỷ đồng, cao gấp 7,3 lần giá trị bình quân một phiên trên hai sàn chứng khoán trong năm 2014.

Trong khi đó, số liệu của Trung tâm lưu ký chứng khoán, tổng dư nợ cho vay đầu tư và kinh doanh cổ phiếu của các NH và các công ty chứng khoán (CTCK) vào đầu năm 2014 là 38.000 tỷ đồng, cao hơn tổng vốn mà hệ thống NH có thể cho vay. Theo đó, nếu bao gồm nhóm cổ phiếu chưa niêm yết, tín dụng cho lĩnh vực kinh doanh và đầu tư cổ phiếu đã vượt mức quy định và chắc chắn sẽ phải giảm dần trong thời gian tới.

Những lo ngại về nguồn cung ứng vốn tín dụng vào chứng khoán rỉ rả suốt từ cuối năm 2014, thậm chí một số mục trong cho vay ký quỹ sẽ không đủ khả năng cung cấp dịch vụ ra thị trường. Mặc dù vậy, nhiều chuyên gia cho rằng, Thông tư 36 không phải rào cản đối với khả năng hấp thụ nguồn cung vốn đầu tư và mức độ ảnh hưởng của quy định này trên sàn niêm yết sẽ không quá lớn. Lý do, những quy định trong Thông tư 36 không có tính hồi tố và trong điều kiện mặt bằng lãi suất tương đối thấp như hiện tại, các CTCK hoàn toàn có thể tìm kiếm nhiều nguồn vốn thay thế khác.

Quả vậy, các nhà phân tích đến từ CTCK Rồng Việt (VDSC) khẳng định, trong dài hạn, Thông tư 36 là liều thuốc cần có để các CTCK năng động hơn trong việc đa dạng hóa nguồn vốn tài trợ vay nợ đầu tư cổ phiếu.

Cụ thể, đồ thị diễn biến tăng trưởng cung tiền M2 và VN-Index cho thấy sự tương quan nhất định giữa biến động TTCK và cung tiền M2 của hệ thống NH. Trong giai đoạn 2007 – 2011, khi NHNN thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ thì thị trường tăng/giảm mạnh tương ứng. Tuy nhiên, kể từ cuối năm 2012, khi tăng trưởng cung tiền M2 không có nhiều thay đổi bất thường thì biên độ biến động VN-Index cũng ổn định hơn.

Điều này cho thấy những phập phù của TTCK trong thời gian vừa qua có mối liên quan không nhỏ với chính sách điều hành thị trường tiền tệ của NHNN. Theo đó, quy định làm giảm mức dư nợ tối đa mà các TCTD có thể cấp cho CTCK trong Thông tư 36 sẽ giúp TTCK hoạt động ổn định hơn và là động lực mạnh mẽ buộc các CTCK phải chuyển mình, năng động hơn trong việc đa dạng hóa nguồn vốn, giảm dần sự phụ thuộc vào vốn vay NH.

Chưa kể, các CTCK sau quá trình tái cấu trúc và giải thể những DN hoạt động kém, nay năng lực về vốn của các công ty khá mạnh. Theo ông Lê Đình Minh Phương, Trưởng phòng Phân tích KIS Việt Nam, hiện các CTCK đều dùng nguồn vốn tự có để cho vay đầu tư, chỉ có một số ít CTCK sử dụng nguồn vốn vay của NH. Ngoài ra, một số CTCK lớn đã có bước đi cụ thể.

Ví dụ, CTCK SSI đã phát hành thành công 500 tỷ đồng trái phiếu DN, CTCK VCBS phát hành thêm 300 tỷ đồng (nâng tổng trái phiếu VCBS đã phát hành lên 500 tỷ đồng) và dự kiến đến cuối quý II/2015 sẽ phát hành thêm khoảng 200-300 tỷ đồng...

TS. Cấn Văn Lực, Giám đốc Trường đào tạo NH BIDV cho rằng, một số NĐT đang hiểu lầm quy định mới tỷ lệ cho vay chứng khoán chỉ được phép tối đa 5% vốn điều lệ, thay vì 20% như trước. Nhưng nên hiểu rằng, tỷ lệ 20% vốn điều lệ trước đây mà NH được phép cho vay mua cả cổ phiếu và trái phiếu thì hiện nay là 5% cho vay cổ phiếu và 15% là trái phiếu.

Trước mắt quy định mới cũng sẽ có phần tác động đến chứng khoán, nhưng về dài hạn sẽ tạo tính bền vững cho tín dụng lĩnh vực này. Mặt khác, chúng ta cũng nên hiểu rằng, vốn cho vay chứng khoán rất ngắn hạn và quay vòng nhanh nên tỷ lệ bao nhiêu chưa hẳn đã quyết định tất cả với room.

Rõ ràng, các quy định của Thông tư 36 đều hướng đến những mục tiêu: làm thế nào để hoạt động của NH an toàn hơn, khắc phục những tồn tại hiện tại của hệ thống NH, phát triển bền vững hơn và hướng tới các thông lệ quốc tế. Theo ông Lực, chỉ có một điểm khó là hệ số rủi ro đối với nợ khó đòi trong lĩnh vực cho vay bất động sản và chứng khoán được giảm từ 250% xuống còn 150%.

Như đã phân tích ở trên, trong dài hạn, điều này thực sự tốt cho thị trường thay vì là rào cản như mọi người vẫn nghĩ.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.370
41.610
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.370
41.590
Vàng SJC 5c
41.370
41.610
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.760
Vàng nữ trang 9999
40.790
41.590