08:58 | 03/05/2019

Dao động đi ngang là xu hướng chính trong ngắn hạn?

Trở lại sau nhiều ngày nghỉ lễ, phiên giao dịch ngày 2/5, các cổ phiếu phần lớn dao động quanh mức tham chiếu, lượng mã giảm chiếm đa số...

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 2/5
Chứng khoán sáng 2/5: Giảm nhẹ sau kỳ nghỉ

Điều này phản ánh tâm lý thận trọng của các nhà đầu tư trước diễn biến giảm điểm của chứng khoán Mỹ sau khi Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết áp lực lạm phát thấp gần đây có thể chỉ là tạm thời. Nhận định của vị Chủ tịch Fed đồng nghĩa với việc thúc đẩy dự báo rằng Fed ít nhất xem xét đến ý tưởng cắt giảm lãi suất vì lạm phát thấp.

Ảnh minh họa

Trong nhóm VN30, các mã chủ yếu chỉ tăng 0,05-0,9% như MWG, PNJ, SAB, CII, VJC… Biên độ giảm dao động 0,05-0,2%, cá biệt có cổ phiếu DHG giảm 2,2% xuống 113.700 đồng/cổ phiếu. Tương tự với nhóm ngân hàng, phần lớn cổ phiếu đều giảm điểm nhưng với biên độ hẹp 0,05-0,4% như CTG, VPB, BID, NVB… Một số mã tăng như MBB, KLB, STB tăng 0,05-0,15%.

Đóng cửa phiên giao dịch, chỉ số VN-Index giảm 1,14 điểm (0,12%) xuống 978,5 điểm; HNX-Index giảm 0,43% xuống 107 điểm và UPCoM-Index giảm 0,66% xuống 55,86 điểm. Thanh khoản thị trường nhìn chung vẫn ở mức thấp với giá trị khớp lệnh 3 sàn đạt gần 3.000 tỷ đồng. Khối ngoại mua ròng hơn 50 tỷ đồng trên toàn thị trường là điểm tích cực trong phiên.

Bà Đinh Thái Huyền Trang - Trưởng nhóm phân tích Công ty Chứng khoán Artex cho biết, các chỉ số chứng khoán chính đều đóng cửa giảm điểm trong phiên giao dịch ngày 2/5. Mặc dù, khối lượng được cải thiện nhẹ so với phiên giao dịch trước đó nhưng tâm lý vẫn tỏ ra khá thận trọng. Lực cung bán tại các mức giá cao liên tục được đưa vào thị trường khiến sắc xanh không được duy trì lâu trong phiên.              

“Khả năng tiến xa hơn vùng giá trên khó xảy ra khi đà tăng của thị trường không có sự ủng hộ của yếu tố thanh khoản. Thời điểm hiện nay thiếu những thông tin hỗ trợ đủ mạnh để có thể kích thích dòng tiền ngắn hạn quay trở lại. Chúng tôi vẫn giữ quan điểm dao động đi ngang được đánh giá sẽ là xu hướng chính trong ngắn hạn. VN-Index sẽ dao động trong vùng 960-980 điểm. Các phiên tăng điểm xen kẽ sẽ không có sự bền vững. Nhà đầu tư nên hạn chế các hoạt động mua đuổi ở các vùng giá cao trong các phiên thị trường tăng mạnh”, bà Trang khuyến cáo.

Chung nhận định, một số chuyên gia chứng khoán cũng cho biết, thị trường từ đầu năm đến nay đều diễn ra theo các dự báo trung hạn theo đó, VN-Index tăng trong 3 tháng đầu năm lên 1.000 điểm +/- 10 và tạo đỉnh trung hạn tại đây. Trung hạn VN-Index đã xác lập đỉnh 1.014 điểm vào 19/3. Thị trường sẽ có một nhịp chỉnh tối thiểu 3 tháng tính từ đỉnh này và VN-Index sẽ hướng về mốc 900 điểm sau 3 tháng hoặc lạc quan nhất là sideway quanh vùng 1.000 - 960 điểm.

“Chúng tôi xác định trong tháng 5, VN-Index sẽ tạo đỉnh sóng hồi quanh vùng 986 +/- 1 nên khi VN-Index cứ vượt 980 thì nhà đầu tư nên chủ động bán hàng ra trên thị trường cơ sở và nằm im quan sát, hạn chế trading nhiều trên thị trường cơ sở trong tháng 5”, một chuyên gia khuyến cáo.

Nhận định về xu hướng thị trường tháng 5, ông Nguyễn Duy Hưng - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán SSI cho biết, khi chứng khoán toàn cầu hay Mỹ, Trung Quốc đều vượt đỉnh cũ, nhưng Việt Nam không biến động cùng chiều. Ông Hưng cho rằng thị trường Việt Nam thường có độ trễ và kỳ vọng độ trễ sắp đến.

Còn theo báo cáo chiến lược của CTCK Bảo Việt (BVSC) dự báo thị trường quý II, Việt Nam là một điểm sáng khi vẫn hút ròng vốn của nhà đầu tư nước ngoài khi các thị trường mới nổi khác chứng kiến sự rút ròng ồ ạt trong 9 tháng đầu năm 2018. 4 tháng đầu năm, nhà đầu tư nước ngoài mua ròng 5.700 tỷ đồng trên 3 sàn. BVSC cho rằng một phần có nguyên nhân từ sự hấp dẫn về mặt định giá của các DN niêm yết.

So với 11 thị trường chứng khoán khác tại châu Á và Mỹ, P/E của VN-Index tại thời điểm cuối tháng 3 là 16,58 xếp thứ 6. Tuy nhiên, sức hút của thị trường chứng khoán Việt Nam đến từ việc tăng trưởng lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) bình quân hàng năm của Việt Nam đạt 9,93%, cao nhất trong số 12 nước. Ngoài ra, chỉ số ROE của VN-Index cũng đạt 13,93%, chỉ thấp hơn Karachi-Index của Pakistan.

Các chuyên gia chứng khoán cũng cho rằng, thị trường tháng 5 sẽ không giảm so với tháng 4, thậm chí tích cực hơn. Tuy nhiên, các cổ phiếu vốn hóa lớn có thể mất đi vai trò hỗ trợ thị trường do biến động ít khiến chỉ số chung tăng không nhiều nhưng thị trường cũng khó giảm sâu.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700