14:30 | 09/01/2019

Đầu tư hiệu quả cho nguồn nhân lực

Ông Ousmane Dione, Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, đặc biệt "ấn tượng" khi nhắc tới mốc tăng trưởng 7,08% năm 2018 của Việt Nam -  mức cao nhất từ năm 2008. Quan trọng hơn, theo ông Ousmane, là chất lượng tăng trưởng kinh tế được cải thiện.

Mục tiêu xuyên suốt năm 2019 là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô
Đón sóng đầu tư: Quan trọng vẫn là nhân lực

Dữ liệu của Tổng cục Thống kê (GSO) vừa công bố cũng khẳng định điều này. Năm 2018 đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP đạt 43,50%, bình quân 3 năm 2016-2018 đạt 43,29%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 33,58% của giai đoạn 2011-2015.

Năng suất lao động của Việt Nam vẫn còn thấp so với nhiều nước trong khu vực

Trong khi đó, năng suất lao động của nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 102 triệu đồng/lao động (tương đương 4.512 USD, tăng 346 USD so với năm 2017). Tính theo tỷ trọng, năng suất lao động năm 2018 tăng 5,93%, cao hơn nhiều mức tăng 5,29% của năm 2016.

PGS - TS. Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu (Singapore) chia sẻ, Việt Nam đang ở giai đoạn tăng trưởng tốt nhưng tiềm năng chưa được phát huy hết, minh chứng cụ thể  ở năng suất lao động của Việt Nam còn rất thấp so với các nước trong khu vực. Nguyên nhân cấu trúc chung của nền kinh tế chưa tương tác đạt hiệu quả cao, trình độ công nghệ, tay nghề công nhân còn thấp, định vị chiến lược của Việt Nam còn hạn chế.

TS. Đào Ngọc Tiến, Giám đốc Trung tâm Hợp tác nghiên cứu và Chuyển giao công nghệ Trường Đại học Ngoại thương phân tích, máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ sản xuất tại Việt Nam còn lạc hậu. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hiện nay chủ yếu là hoạt động sơ chế, gia công có hàm lượng giá trị tăng thêm, kết tinh trong sản phẩm rất thấp. Rõ ràng với quy trình công nghệ như vậy, Việt Nam đang là một trong những "công xưởng" của thế giới, nhưng là công xưởng ở quy mô nhỏ bé.

Bên cạnh đó, chất lượng lao động có sự lệch pha rõ rệt giữa khu vực nông thôn và thành thị. Nếu ở thành thị, lao động được đào tạo chiếm 36,3%, trong khi ở nông thôn chỉ đạt 12,6%. Đây chính là rào cản lớn cho việc cải thiện năng suất lao động. Thêm nữa, các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, đặc biệt những ngành dịch vụ mang tính chất động lực của nền kinh tế như tài chính, tín dụng còn chiếm tỷ trọng thấp trong nền kinh tế.

Tỷ trọng lao động đang làm việc trong khu vực nông, lâm và thủy sản mặc dù đã giảm từ 55,1% xuống còn 44,0%, tương ứng với 23,5 triệu người đang làm việc trong khu vực này, nhưng vẫn là con số khá cao so với các nước trong khu vực. Phần lớn lao động làm việc ở lĩnh vực nông, lâm và thủy sản lại là lao động giản đơn, có tính thời vụ, việc làm không ổn định, nên giá trị gia tăng tạo ra thấp, dẫn đến năng suất lao động thấp, ông Tiến bổ sung.

Ông Yamaura Nobuyuki, Cố vấn trưởng Viện Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam - Nhật Bản (VJCC) nhấn mạnh, cần chú trọng giải pháp nâng cao năng suất lao động cho khu vực doanh nghiệp, thông qua nâng cao năng lực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trong mỗi doanh nghiệp. Từ đó, tăng cường đầu tư hoạt động nghiên cứu và phát triển trong mỗi doanh nghiệp.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh, cần có chính sách cụ thể nhất là chính sách thuế để doanh nghiệp tự thấy không chỉ cần phải tăng đầu tư, mà tiến tới "đua nhau" đầu tư cho nghiên cứu, phát triển. Khi doanh nghiệp càng đầu tư nhiều cho khoa học và công nghệ bao nhiêu sẽ càng được ưu đãi về thuế, được ưu tiên phân bổ nguồn lực bấy nhiêu.

Đồng thời, cần tăng cường thông tin khoa học nhằm kết nối, tạo mạng lưới chia sẻ kết quả nghiên cứu, ứng dụng. Bởi nếu có mạng lưới chia sẻ sẽ tiết kiệm nhiều kinh phí do không phải nghiên cứu lại từ đầu, cũng như hạn chế được tình trạng trùng lặp đề tài. Kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học, công nghệ sẽ được sử dụng hiệu quả hơn.

Để quá trình này đi vào thực chất, hiệu quả hơn nữa, Chính phủ cần đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp ứng dụng hệ thống quản lý chất lượng hiện đại như đào tạo chuyên sâu, triển khai các mô hình thí điểm...

Song song với đó, từng bước nghiên cứu, đề xuất chiến lược phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, tỷ trọng giá trị gia tăng lớn, có lợi thế cạnh tranh, tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Đây chính là cơ hội để Bộ Khoa học và Công nghệ phát huy vai trò là cơ quan chủ trì, nghiên cứu, tham mưu cho Chính phủ các chính sách đột phá,  Phó Thủ tướng kết luận.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.255 26.176 26.911 30.095 30.577 203,19 211,64
BIDV 23.155 23.255 26.153 26.529 30.109 30.591 207,04 210,69
VietinBank 23.145 23.255 26.163 26.888 31.084 30.724 207,01 213,51
Agribank 23.150 23.245 26.149 26.524 30.113 30.576 207,03 210,80
Eximbank 23.140 23.240 26.167 26.517 30.198 30.603 207,82 210,60
ACB 23.160 23.240 26.188 26.526 30.316 30.630 207,98 210,66
Sacombank 23.098 23.260 26.176 26.590 30.250 30.655 207,02 211,59
Techcombank 23.120 23.255 25.906 26.651 30.856 31.731 206,32 211,96
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.096 26.552 30.230 30.651 207,23 210,96
DongA Bank 23.170 23.240 26.210 26.520 30.250 30.610 204,50 210,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.650
36.800
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.650
36.780
Vàng SJC 5c
36.650
36.800
Vàng nhẫn 9999
36.640
37.040
Vàng nữ trang 9999
36.230
36.830