09:50 | 17/05/2019

Để chiến lược đầu tư mang lại hiệu quả

Để đầu tư ngành thành công và hiệu quả, BSC khuyến cáo NĐT cần lưu ý đến những yếu tố nền tảng và xu hướng để đoán định thị trường và ra quyết định đầu tư phù hợp...

Chứng quyền bảo đảm có thúc đẩy TTCK Việt Nam?
Sự điều chỉnh của chứng khoán còn tiếp tục kéo dài
Ảnh minh họa

Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC), sau quá trình phục hồi vào đầu quý I/2019, đến nay định giá của TTCK Việt Nam vẫn đang ở mức tương đối hợp lý so với khu vực xét trên chỉ số P/E (hệ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu) và P/B (Giá cổ phiếu/Giá ghi sổ sách).

Thêm vào đó NĐT cần cân nhắc yếu tố tăng trưởng lợi nhuận (EPS) - cao nhất trong khu vực Đông Nam Á (+11% so với cùng kỳ năm trước), tiến độ thoái vốn các DNNN đầu ngành, khả năng nâng hạng thị trường thì có thể thấy thị trường Việt Nam tương đối hấp dẫn.

Tuy nhiên xét trên từng ngành thì mức chiết khấu có sự dao động khác nhau. Các ngành của Việt Nam nếu so sánh với trung vị của nhóm nước ASEAN là Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan thì hầu như tương đối rẻ hơn về mặt định giá. Cụ thể, với ngành tài chính, hệ số P/E và P/B của Việt Nam lần lượt là 13,51 và 1,57 thì chỉ số này tại Indonesia 17,1 và 1,0; tại Malaysia các hệ số này lần lượt là 11,79 và 1,12; còn tại Philippines là 15,55 và 1,34.

Với ngành hàng tiêu dùng, hệ số P/E và P/B của Việt Nam lần lượt là 12,14 và 1,76 thì tại Indonesia là 18,1 và 1,3; tại Malaysia là 32,12 và 2,68. Với ngành viễn thông, hệ số số P/E và P/B của Việt Nam lần lượt là 11,19 và 2,36 thì ở Median là 46,71 và 3,13; ở Indonesia là 48,6 và 26; còn tại Philippines là 46,71 và 3,64…  

Vì vậy để đầu tư ngành thành công và hiệu quả, BSC khuyến cáo NĐT cần lưu ý đến những yếu tố nền tảng và xu hướng để đoán định thị trường và ra quyết định đầu tư phù hợp.

Thứ nhất, đó là sự giảm tốc của kinh tế toàn cầu và việc điều chỉnh dự phóng tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) lần thứ 3 hạ dự báo triển vọng tăng trưởng kinh tế thế giới xuống mức thấp nhất 3,3%, giảm so với mức 3,7% cuối năm 2018 và mức 3,5% vào đầu năm 2019.

Trong dự báo này, IMF cũng hạ tăng trưởng kinh tế Mỹ từ mức 2,5% xuống mức 2,3%, hạ tăng trưởng Eurozone từ 1,6% xuống 1,3% và dự báo tăng trưởng Trung Quốc ở mức 6,3% so với mức 6,6% năm 2018. Tuy nhiên theo IMF, triển vọng tăng trưởng sẽ phục hồi dần trong nửa cuối năm 2019 và năm 2020 (tốc độ tăng trưởng kinh tế dự phóng đạt 3,6%) nhờ vào quan điểm nới lỏng chính sách tiền tệ ở các quốc gia lớn.

Thứ hai là về chiến tranh thương mại. Chính quyền ông Trump đã quyết định nâng thuế đối với 200 tỷ USD hàng hóa của Trung Quốc từ mức 10% lên 25% kể từ ngày 10/5 và đang lên kế hoạch áp thuế đối với 325 tỷ USD hàng hóa khác của Trung Quốc hiện đang chưa chịu thuế. Phía Trung Quốc cũng không chịu lép khi quyết định nâng thuế lên 25% đối với 60 tỷ USD hàng hóa của Trung Quốc. Căng thẳng thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới leo thang càng làm mờ thêm triển vọng kinh tế toàn cầu.

Thứ ba là về hàng hóa và lạm phát. Theo BSC, giá cả các loại hàng hóa đã có sự phục hồi mạnh mẽ kể từ đầu năm 2019 cũng là những tín hiệu tích cực tác động lên chiến lược đầu tư ngành từ nay đến cuối năm. Các nhóm tăng giá gồm có: năng lượng dầu, khí và than; một số kim loại như sắt, thép, Nikel và nhôm; và cao su...

Thứ tư và chính sách tiền tệ thay đổi chuyển sang xu hướng nới lỏng. Tháng 3/2019, Fed đã phát ra tín hiệu không tăng lãi suất trong năm 2019 và kết thúc thời kỳ thắt chặt chính sách tiền tệ từ cuối năm 2015. Chương trình thắt chặt định lượng (QT) cũng sẽ được Fed dừng lại vào tháng 9/2019.

Theo BSC, việc Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tiếp tục giữ lãi suất ở mức kỷ lục đến hết năm 2019 do các yếu tố địa chính trị, Brexit. Ngân hàng Nhật Bản (BoJ) vẫn giữ nguyên chính sách tiền tệ siêu nới lỏng với mục tiêu hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế và kỳ vọng lạm phát có thể lên mức kế hoạch. Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) có bước chuyển đổi sang chính sách “thận trọng và thích hợp”, qua đó có xu hướng nới lỏng một số chính sách tiền tệ như cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc (RRR) đối với nhiều NHTM và ngân hàng nước ngoài nhằm thúc đẩy quá trình tài trợ vốn với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs); cắt giảm thuế VAT đối với ngành sản xuất từ mức 16% về mức 13%.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.230 23.350 26.151 26.915 29.358 29.828 213,84 222,61
BIDV 23.225 23.345 26.286 27.035 29.371 29.874 214,10 219,52
VietinBank 23.212 23.342 26.255 26.990 29.290 29.930 214,21 220,71
Agribank 23.245 23.345 26.076 26.474 29.280 29.761 214,44 218,35
Eximbank 23.220 23.330 26.292 26.655 29.467 29.874 215,08 218,05
ACB 23.210 23.330 26.284 26.645 29.508 29.838 214,96 21791
Sacombank 23.184 23.336 26.293 27.050 29.455 29.859 214,24 218,80
Techcombank 23.210 23.350 26.044 26.909 29.111 29.992 21368 221,01
LienVietPostBank 23.210 23.330 26.218 26.748 29.458 29.853 214,54 218,94
DongA Bank 23.240 23.330 26.320 26.640 29.460 29.840 211,60 217,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
38.700
38.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
38.700
38.950
Vàng SJC 5c
38.700
38.970
Vàng nhẫn 9999
38.450
38.950
Vàng nữ trang 9999
38.150
38.950