10:00 | 09/08/2017

Để lãi suất ổn định

Chính phủ chỉ đạo yêu cầu các bộ, ngành phải đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công được nêu trong Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 3/8/2017. Điều này có tác động không nhỏ đến quá trình thực thi chính sách tiền tệ nếu thiếu sự phối hợp nhịp nhàng giữa hai chính sách tiền tệ và tài khóa.

Thay đổi chính sách: Bước đi và cách làm phải rất thận trọng
Lãi suất giảm sâu hỗ trợ tích cực cho ngân sách
Vốn rẻ đang chảy đúng địa chỉ

Trong 6 tháng đầu năm 2017, mặc dù các bộ, ngành đã triển khai tích cực nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, tăng trưởng GDP 6 tháng đạt 5,73%, tuy nhiên vấn đề nổi lên trong thực hiện kế hoạch ngân sách Nhà nước là việc giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 25,6% dự toán năm 2017 đã được Quốc hội thông qua, thấp hơn so với cùng kỳ, làm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, giảm hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư công.

Do vậy 6 tháng cuối năm nay, Chính phủ chỉ đạo yêu cầu các bộ, ngành phải đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công được nêu trong Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 3/8/2017. Điều này có tác động không nhỏ đến quá trình thực thi chính sách tiền tệ nếu thiếu sự phối hợp nhịp nhàng giữa hai chính sách tiền tệ và tài khóa.

Ảnh minh họa

Chính sách tiền tệ với nội dung cơ bản là kiểm soát cung tiền và lãi suất của nền kinh tế, trong khi đó thu, chi của Chính phủ có tác động trực tiếp đến cung tiền và lãi suất. Xem xét bảng cân đối tiền tệ toàn ngành (monetery survey), dễ dàng nhận thấy, các hoạt động thu, chi Chính phủ được phản ánh rõ qua các giao dịch trên tài khoản Kho bạc mở tại Ngân hàng Trung ương (NHTW) hoặc mở tại NHTM. Tiền gửi của Chính phủ tại NHTW là cấu phần quan trọng trong tiền cơ bản (money base), do vậy cũng là cấu phần quan trọng làm thay đổi cung tiền M2 trong nền kinh tế.

Trong những thời kỳ nguồn thu và chi tiêu của Chính phủ diễn ra mạnh mẽ, việc chuyển tiền hai chiều trên tài khoản của Chính phủ tại NHTW có thể gây biến động tiền cơ bản của NHTW. Thực tế ở Việt Nam, cũng như nhiều nước đang phát triển khác, sự biến động của tiền gửi Kho bạc có những lúc tăng cao đáng kể làm giảm mạnh vốn khả dụng của các NHTM, qua đó làm tăng lãi suất liên NH.

Ngược lại, cũng có lúc làm tăng đáng kể vốn khả dụng và giảm lãi suất liên NH. Điều này gây áp lực nhất định cho kiểm soát cung tiền của NHTW trong thực thi chính sách tiền tệ. Đặc biệt ở những nước một phần tiền gửi Kho bạc được gửi tại NHTM thì việc kiểm soát cung tiền và lãi suất của NHTW càng khó khăn hơn.

Vì vậy, trong 6 tháng cuối năm 2017, việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công sẽ tác động trực tiếp không nhỏ đến dòng vốn khả dụng của các NHTM, đến lãi suất thị trường liên NH. Từ thực tế này, vấn đề đặt ra trong phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa những tháng cuối năm là cần có sự phối hợp kịp thời và nhịp nhàng trong quá trình điều hành hai chính sách. Trước hết là việc trao đổi thông tin kịp thời, các khoản thu, chi lớn của Chính phủ ảnh hưởng đến dòng tiền cần được thông báo trước với NHNN.

Theo đó, NHNN điều chỉnh dòng tiền phù hợp, tránh để các NHTM rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản đẩy lãi suất lên cao, đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ, ổn định lãi suất đúng với mục tiêu đã đặt ra. Tiếp đến là sự phối hợp trong việc tài trợ thâm hụt ngân sách và quản lý nợ công, sự phối hợp này là vô cùng quan trọng đảm bảo tính tương tác hiệu quả của cả hai chính sách. Một liều lượng hợp lý cho việc bù đắp thâm hụt ngân sách từ hệ thống NH, từ vay nước ngoài sẽ hỗ trợ mang lại hiệu quả nhất định cho thực thi chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,20
4,20
4,70
5,20
5,40
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,30
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,10
5,10
5,20
5,90
5,90
6,70
6,80
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
5,50
5,50
5,50
6,90
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.680 22.750 26.629 27.952 30.113 30.596 199,55 203,37
BIDV 22.685 22.755 26.660 26.899 30.397 30.664 201,60 203,35
VietinBank 22.665 22.745 26.651 26.913 30.178 30.600 200,57 203,22
Agribank 22.675 22.745 26.689 29.993 30.180 30.615 199,25 202,43
Eximbank 22.660 22.750 26.483 26.828 30.014 30.405 200,18 202,79
ACB 22.680 22.750 26.428 26.914 30.028 30.504 199,71 203,38
Sacombank 22.674 22.766 26.543 26.905 30.103 30.467 200,22 203,29
Techcombank 22.660 22.760 26.167 27.032 29.637 30.581 198,76 204,08
LienVietPostBank 22.660 22.770 26.552 26.907 30.375 30.677 200,77 203,27
DongA Bank 22.680 22.750 26.450 26.890 29.980 30.470 199,60 203,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.320
36.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.320
36.520
Vàng SJC 5c
36.320
36.540
Vàng nhẫn 9999
34.890
35.290
Vàng nữ trang 9999
34.590
35.290