11:28 | 10/06/2019

Để ngành thủy sản phát triển bền vững

Để xuất khẩu hải sản một cách bền vững thì Việt Nam sẽ phải tiếp tục thực hiện 9 khuyến nghị của EU

Cơ hội luôn mở với DN mạnh dạn đổi mới
Ngành thủy sản tích cực “xóa” thẻ vàng
Gỡ “thẻ vàng” đối với hải sản Việt Nam: Không để trên nóng dưới lạnh

Bộ Công thương ước tính, tháng 5/2019 xuất khẩu thủy sản đạt 176 nghìn tấn, trị giá 750 triệu USD, giảm 0,33% về lượng và giảm 1,64% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu thủy sản giảm 1,82% về lượng và giảm 1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018, đạt 748,2 nghìn tấn, trị giá 3,173 tỷ USD.

Để xuất khẩu hải sản một cách bền vững thì Việt Nam sẽ phải tiếp tục thực hiện 9 khuyến nghị của EU

Dự báo trong thời gian tới, xuất khẩu cá tra sang các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, ASEAN... sẽ tăng, nhưng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc sẽ gặp khó khăn. Việc Hoa Kỳ tăng thuế đối với thủy sản nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ có tác động lớn đến xuất khẩu thủy sản của Trung Quốc. Do đó, các sản phẩm thủy sản của Trung Quốc sẽ quay trở lại phục vụ thị trường nội địa, đặc biệt là mặt hàng cá rô phi. Điều này có thể sẽ tác động đến nhu cầu nhập khẩu cá tra của Trung Quốc.

Trung Quốc đã phê duyệt cho 33 mặt hàng thủy sản của Việt Nam được miễn thuế khi xuất khẩu vào Trung Quốc qua cửa khẩu Hà Khẩu, trong đó bao gồm nhiều mặt hàng thủy sản thế mạnh của Việt Nam. Tuy nhiên, thị trường này ngày càng yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng và nguồn gốc sản phẩm. Trung Quốc đã đầu tư xây dựng, nâng cấp các phòng kiểm nghiệm, kiểm dịch chất lượng hàng hóa quy mô lớn tại khu vực giáp biên với trang thiết bị hiện đại, có năng lực kiểm định không thua kém các cơ sở của nước phát triển khác như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU....

Theo kế hoạch, từ ngày 1/10/2019, các lô hàng thực phẩm nhập khẩu vào Trung Quốc đều phải có chứng thư xuất khẩu đi kèm. Do đó, các doanh nghiệp cần chú ý đến phương thức sản xuất và xuất khẩu. Cụ thể, cần lưu ý các yêu cầu mới về chất lượng, truy xuất nguồn gốc cũng như các quy định, tiêu chuẩn về bao bì, đóng - ghi nhãn hàng hóa và mã vạch vùng miền để xuất khẩu bền vững cũng như nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm.

Đối với tôm, xuất khẩu sẽ tiếp tục đối mặt với khó khăn do sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường và giá sẽ tiếp tục ở mức thấp. Do từ đầu năm 2019 đến nay thời tiết khá thuận lợi, nguồn cung tôm từ các nước nuôi tôm có sản lượng lớn như Ấn Độ, Ecuador, Indonesia Thái Lan... đều tăng so với cùng kỳ năm 2018. Từ tháng 6/2019 nguồn cung tôm cung cấp ra thị trường toàn cầu sẽ tăng mạnh do các nước sản xuất lớn vào vụ thu hoạch như: Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc. Do đó, giá tôm được dự báo sẽ tiếp tục ở mức thấp.

Và ở một khía cạnh khác, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, việc Liên minh châu Âu (EU) đưa ra thẻ vàng đối với Việt Nam về IUU là một định chế pháp luật để ngăn chặn khai thác bất hợp pháp, không đúng quy cách và không đúng quy ước của EU, nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đại dương và kinh tế biển.

Những khuyến nghị của EU là hoàn toàn phù hợp với Việt Nam để tái cơ cấu lại ngành hải sản theo hướng phát triển bền vững và có trách nhiệm hơn. Theo đó, chúng ta đã tập trung thực hiện các nhóm giải pháp, đặc biệt là về chính sách khi Quốc hội đã thông qua Luật Thủy sản mới. Chính phủ đã chỉ đạo và hiện đã ban hành các văn bản theo luật bao gồm 2 nghị định, 8 thông tư.

Cùng với đó, tại 28 tỉnh duyên hải, các cấp chính quyền cũng đã tích cực vào cuộc tuyên truyền một cách hiệu quả các vấn đề pháp luật về khai thác hải sản  cho ngư dân, các thành phần kinh tế tham gia khai thác biển. Chính vì thế cho đến thời điểm này, các vi phạm về khai thác cá ở một số vùng biển của Việt Nam không còn xảy ra nữa. Điều này đã được Australia và nhiều quốc gia khác thừa nhận. Tuy nhiên, tại các khu vực biển phía Nam thì hiện tượng này vẫn còn tiếp diễn, do cả nguyên nhân khách quan (có phần chồng lấn biển), và chủ quan (một số ngư dân còn vi phạm trong năm 2018 và 5 tháng đầu năm 2019). Do đó, trong thời gian tới, để triển khai chương trình xuất khẩu hải sản nói chung một cách bền vững thì Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện 9 khuyến nghị của EU.

Bên cạnh đó, quan trọng hơn là việc nuôi trồng của Việt Nam hiện đang phát triển rất tốt. Năm 2018 vừa qua, xuất khẩu thủy sản đã đạt trên 4 tỷ USD. Trong thời gian tới, chúng ta phải tập trung tái cơ cấu ngành thủy sản sâu rộng hơn, tạo nên khối liên kết chặt chẽ từ khâu sản xuất cho đến tổ chức chế biến và cho đến thương mại. Bên cạnh đó, cần tập trung đẩy mạnh nuôi trồng ở các vùng biển.

Vừa qua, Na Uy đã có cam kết chính thức với Việt Nam cho một sự hợp tác chiến lược về phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển, kết hợp chặt chẽ với ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ để đảm bảo phát triển bền vững.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700