09:28 | 05/01/2018

Để thị trường trái phiếu doanh nghiệp bớt “èo uột”

Hiện nay tiềm năng của thị trường TPDN chưa được quan tâm và phát triển đúng mức

Trái phiếu doanh nghiệp sẽ chưa nóng
Quy định mới về mua trái phiếu doanh nghiệp của TCTD
Phát hành trái phiếu doanh nghiệp: Lợi cả ngân hàng và doanh nghiệp

Trái ngược với sự khởi sắc mạnh mẽ của thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) năm 2017 đã chứng kiến sự sụt giảm. Theo số liệu được Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia công bố trong Báo cáo Tổng quan thị trường tài chính 2017, huy động vốn thông qua phát hành TPDN đạt khoảng 100.000 tỷ đồng, giảm 15% so với năm 2016. Nguyên nhân chủ yếu do lãi suất năm 2017 có dấu hiệu tạo đáy và thị trường chưa xuất hiện những đợt phát hành TPDN lớn.

Hiện nay tiềm năng của thị trường TPDN chưa được quan tâm và phát triển đúng mức

Dòng vốn dài hạn tắc ở đâu?

Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia nhận định, cơ cấu thị trường tài chính đã có sự chuyển biến tích cực theo hướng giảm bớt sự phụ thuộc vào hệ thống TCTD, tăng cường vai trò của thị trường vốn trong việc huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Tuy nhiên cho tới nay, tỷ trọng cung ứng vốn cho nền kinh tế của hệ thống TCTD vẫn đang chiếm đa số với 64,6%, trong khi từ thị trường vốn chỉ chiếm khoảng 35,4%.

Bên cạnh đó, trong thị trường vốn hiện nay, thị trường chứng khoán cũng đang chiếm thế áp đảo và tăng trưởng mạnh mẽ so với thị trường trái phiếu. Phân tách nhỏ hơn nữa, thị trường trái phiếu hiện chiếm khoảng gần 40% GDP, thì trái phiếu Chính phủ có tỷ trọng lên tới 30% GDP, còn lại là TPDN.

Ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch HĐQT Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD) chia sẻ, thực tế dư nợ TPDN hiện chỉ chiếm khoảng 5,7% GDP, vào khoảng 238.000 tỷ đồng, rất thấp so với mặt bằng khu vực là khoảng 22%. Con số này cho thấy kênh huy động vốn bền vững và dài hạn này vẫn chưa thực sự được khơi thông, nguồn vốn phục vụ cho phát triển kinh tế hiện nay được huy động chủ yếu qua các công cụ truyền thống như cổ phiếu, tín dụng ngân hàng. Bên cạnh đó, theo ông Sơn, nhiều DN cũng sử dụng hình thức phát hành trái phiếu như một công cụ dàn xếp tài chính.

Phân tích các nguyên nhân khiến thị trường TPDN của Việt Nam phát triển “èo uột” như vậy, TS. Lê Xuân Nghĩa, chuyên gia tài chính ngân hàng cho rằng, lý do quan trọng nhất là cơ sở pháp lý hiện nay quá phức tạp. Ông Nghĩa phân tích, thị trường trái phiếu, nhất là trái phiếu phát hành riêng lẻ dựa chủ yếu vào lòng tin, dựa vào các quy định có tính pháp lý. Song, có thể thấy quy định của Nghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành TPDN đang quá phức tạp về thủ tục, điều kiện phát hành trái phiếu riêng lẻ.

Bên cạnh đó, việc công bố thông tin còn quá sơ sài nên bản thân NĐT và DN chưa thể gặp được nhau. Nguyên nhân khác là, chúng ta vẫn đang có nhiều kênh đầu tư sinh lời nhanh và phát triển nóng như bất động sản, chứng khoán… nên thị trường TPDN đang bị lấn át, phát triển chậm chạp.

Khơi thông điểm nghẽn

Mặc dù thị trường TPDN đang phát triển chậm chạp, song PGS-TS. Đặng Văn Thanh, Chủ tịch Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam nhận định, trong tương lai đây sẽ là kênh huy động vốn có tiềm năng rất lớn. Nhiều dự báo cho biết, trong thời gian tới, thị trường TPDN sẽ tăng trưởng 30-40%/năm. Đầu tư TPDN là khoản đầu tư tạo ra lợi nhuận ổn định dài hạn.

Tuy nhiên, hiện nay tiềm năng của thị trường TPDN chưa được quan tâm và phát triển đúng mức. Ông Thanh cho rằng việc phát hành và giao dịch TPDN hoàn toàn không dễ dàng và không đơn giản. Đặc biệt, cho đến nay, ở Việt Nam khách hàng cá nhân rất ít người biết đến và tham gia vào thị trường TPDN. Với mục tiêu đưa dư nợ thị trường TPDN đạt khoảng 7% GDP vào năm 2020 và khoảng 20% GDP vào năm 2030, cần tạo lập những quy định mới với đường hướng cụ thể, sát thực tế.

Vì vậy, PGS-TS. Đặng Văn Thanh khuyến nghị cần sửa đổi các quy định về phát hành TPDN được quy định tại Nghị định 90. Đơn cử như việc quy định mệnh giá trái phiếu là một tỷ đồng hoặc bội số của một tỷ đồng, theo ông Thanh là quá cao so với các công cụ chứng khoán khác và làm giảm tính hấp dẫn, tính thanh khoản. Đồng thời, gây khó khăn cho NĐT nhỏ lẻ; cơ hội tiếp cận vốn của các DN khởi nghiệp gặp khó khăn.

Bên cạnh đó, theo ông Thanh có nhiều quy định đang cản trở việc DN phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế. Đó là quy định đồng tiền phát hành và thanh toán trái phiếu là đồng Việt Nam; việc mua lại trái phiếu trước hạn chỉ được thực hiện khi trái phiếu đã lưu hành tối thiểu 1 năm kể từ ngày trái phiếu được phát hành; nội dung về mua lại trái phiếu trước hạn, hoán đổi trái phiếu phải được thể hiện trong bản công bố thông tin cho NĐT… Tất cả các quy định này là chưa phù hợp khi phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế và chưa thể hiện tính linh hoạt của trái phiếu.

Một số quy định khác như DN phát hành phải có thời gian hoạt động tối thiểu từ 1 năm kể từ ngày được cấp lần đầu giấy phép kinh doanh và phải thanh toán đầy đủ các khoản nợ trái phiếu đến hạn trong 3 năm liên tiếp trước đợt phát hành trái phiếu… có thể gây khó cho DN, đặc biệt là các DN khởi nghiệp có ít kinh nghiệm, thời gian hoạt động, nhưng lại là đối tượng khát vốn nhất.

TS. Lê Xuân Nghĩa, cũng đồng tình và cho rằng, cần xây dựng lại khung pháp lý về phát hành TPDN, bởi ngay từ đầu đã có cách tiếp cận sai, dẫn tới hướng đi sai. Cụ thể, ông Nghĩa cho rằng trái phiếu phát hành riêng lẻ cần dùng cho DN khởi nghiệp, những DN chưa hoạt động sản xuất một ngày nào cho tới các DN lớn đã nhiều năm kinh nghiệm. Tuy nhiên, nghị định lại chỉ đang hướng tới các ông lớn trên thị trường.

Ông Nghĩa đặt vấn đề, quy định hiện nay yêu cầu trái phiếu phát hành đơn lẻ cũng cần có kiểm toán báo cáo tài chính. Tuy nhiên, đây là hình thức phát hành chủ yếu dựa vào lòng tin nên không cần qua kiểm toán. Vì vậy, nghị định cần có tầm bao quát hơn. "Trái phiếu phát hành riêng lẻ thì cũng không cần phải lưu ký, bởi một ông nông dân có ý tưởng hay cũng có thể phát hành trái phiếu", ông Nghĩa đặt vấn đề.

Cho rằng quy định tại Nghị định 90 về phát hành TPDN quá rườm rà và phức tạp, không đi theo sự phát triển của thế giới, TS. Lê Xuân Nghĩa dẫn chứng, tại Trung Quốc có trái phiếu Gấu Trúc, hồ sơ đăng ký chỉ vỏn vẹn 1 trang giấy với đủ các thông tin xếp hạng, chỉ số, sau đó được phát hành toàn cầu. “Loại trái phiếu này có thể cao cấp hơn nhiều TPDN của ta, nhưng thủ tục, đăng ký vô cùng đơn giản. Nó như một khoản vay nợ bình thường, anh thích thì anh cho vay, không thì thôi và nó dựa vào niềm tin lẫn nhau”, ông Nghĩa cho biết thêm.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.270 23.360 26.266 26.738 29.086 29.552 200,70 207,79
BIDV 23.280 23.370 26.323 26.616 29.275 29.553 205,71 207,96
VietinBank 23.270 23.370 26.220 26.725 29.033 29.593 204,31 208,06
Agribank 23.250 23.345 26.131 26.483 29.001 29.439 20307 206,37
Eximbank 23.260 23.360 26.246 26.597 29.175 29.565 205,19 207,93
ACB 23.280 23.360 26.290 26.628 29.295 29.598 205,35 207,99
Sacombank 23.283 23.375 26.322 26.681 29.267 29.627 205,32 208,39
Techcombank 23.250 23.360 26.035 26.752 28.883 29.706 203,88 209,19
LienVietPostBank 23.240 23.340 26.078 26.535 29.106 29.516 20335 20705
DongA Bank 23.290 23.370 26.320 26.630 29.230 29.600 203,90 207,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.280
36.480
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.280
36.460
Vàng SJC 5c
36.280
36.480
Vàng nhẫn 9999
35.230
35.630
Vàng nữ trang 9999
34.880
35.580