13:00 | 10/07/2019

Đi chậm lại, lấy sức cho chu kỳ mới

Tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 11 của HĐND TP. Đà Nẵng khóa IX vào sáng 9/7/2019, Chủ tịch HĐND TP. Đà Nẵng Nguyễn Nho Trung cho rằng, 6 tháng qua mặc dù phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức, song Đà Nẵng đã phát triển đúng hướng, bền vững, duy trì được tốc độ phát triển kinh tế.

Đồng thời, thu ngân sách đạt kết quả khá, thu hút đầu tư nước ngoài có chuyển biến tích cực, từng bước thực hiện có hiệu quả các công trình dự án trọng điểm. Cùng đó, đã tích cực giải quyết các bất cập trong quá trình phát triển “nóng” trên cơ sở tuân thủ pháp luật, hài hòa lợi ích cộng đồng, lợi ích DN và khả năng thực hiện.

Ảnh minh họa

Tuy nhiên, việc tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc tạo điều kiện cho DN triển khai các dự án đầu tư chưa thực sự chuyển biến tích cực; vẫn còn nhiều dự án công trình trọng điểm triển khai chậm tiến độ; tỷ lệ giải ngân vốn xây dựng cơ bản tính đến nay vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra.

Song, vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều cử tri hiện nay là một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu có dấu hiệu suy giảm và đạt khá thấp so với kế hoạch, tăng trưởng GRDP đạt 6,21%, thấp hơn so với cùng kỳ. Một số DN quy mô lớn, tỷ lệ đóng góp cao chững lại trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, quản trị hành chính công tụt giảm so với các năm trước…

Theo bà Nguyễn Thị Kim Liên, Chủ tịch Hội DN quận Thanh Khê, Giám đốc Công ty TNHH Kinh doanh tổng hợp Ân Điển, Đà Nẵng hiện nay đang tập trung phát triển các ngành kinh tế xanh - sạch, có giá trị công nghệ cao thay vì các ngành công nghiệp nặng như trước đây. Giai đoạn chuyển tiếp này chắc chắn sẽ kéo theo việc tốc độ tăng trưởng kinh tế có phần giảm lại. Điều này hoàn toàn bình thường.

Đứng trước những khó khăn thách thức, điều quan trọng là mọi cá nhân, DN đều phải cố gắng. Bà Liên cho rằng, Đà Nẵng đang có một lợi thế lớn, có định hướng phát triển rõ ràng, có sự quyết tâm của lãnh đạo và sự đồng lòng của DN. Khi cả 3 yếu tố này cùng hợp lực, Đà Nẵng sẽ tăng trưởng mạnh và bền vững, DN cũng hết sức ủng hộ những chủ trương của thành phố.

Còn bà Nguyễn Thị Phi Anh, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thủy sản và Thương mại Thuận Phước chia sẻ, việc tăng trưởng kinh tế của Đà Nẵng trong 6 tháng đầu năm có chững lại nhưng không quá quan ngại. Đây có thể chỉ là một dấu hiệu bình thường của chu kỳ phát triển kinh tế nói chung và các DN nói riêng. Ví dụ chuyện nửa đầu năm đi chậm, nửa cuối năm đi nhanh là chuyện từng xảy ra nhiều lần trong ngành thủy sản…

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.370
41.610
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.370
41.590
Vàng SJC 5c
41.370
41.610
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.760
Vàng nữ trang 9999
40.790
41.590