07:19 | 13/07/2018

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 12/7

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 12.229 tỷ đồng ra thị trường. VN-Index tăng 5,35 điểm lên 898,51 điểm. Thanh khoản thị trường xuống mức thấp nhất 1 năm.

Tin trong nước:

Ngày 12/7, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 22.652 VND/USD, tiếp tục tăng 5 đồng so với phiên trước đó. Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên niêm yết tỷ giá mua vào ở mức 22.700 VND/USD và tỷ giá bán ra ở mức 23.050 VND/USD. Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên giao dịch ở mức 23.048 VND/USD, lại tăng nhẹ 2 đồng so với phiên 11/7. Tỷ giá tự do tăng 10 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch quanh mức 23.170 – 23.190 VND/USD.

Phiên 12/7, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND không thay đổi ở kỳ hạn 2 tuần, trong khi tiếp tục tăng 0,01 – 0,07 điểm phần trăm ở các kỳ hạn còn lại so với phiên trước đó; cụ thể: qua đêm 1,23%; 1 tuần 1,35%; 2 tuần 1,50% và 1 tháng 1,70%. Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD giữ nguyên ở các kỳ hạn qua đêm và 1 tháng, trong khi giảm 0,02 – 0,04  điểm phần trăm ở các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần; giao dịch ở mức: qua đêm 2,07%; 1 tuần 2,18%; 2 tuần 2,28%, 1 tháng 2,43%. Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp tăng ở tất cả các kỳ hạn; cụ thể: 3 năm 3,0%; 5 năm 3,57%; 7 năm 4,14%; 15 năm 5,14%.

Với nghiệp vụ thị trường mở, phiên hôm qua, Ngân hàng Nhà nước duy trì chào thầu 4.000 tỷ đồng tín phiếu kỳ hạn 28 ngày với khối lượng 3.000 tỷ đồng và 91 ngày với 1.000 tỷ đồng. Các tổ chức tín dụng hấp thụ được 1.000 tỷ đồng kỳ hạn 28 ngày với lãi suất giữ nguyên ở mức 1,25% và 271 tỷ đồng ở kỳ hạn 91 ngày, lãi suất 1,85%. Trong ngày có 13.500 tỷ đồng tín phiếu đến hạn. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 12.229 tỷ đồng ra thị trường, đưa khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường giảm xuống mức 106.380 tỷ đồng.

Trên thị trường chứng khoán, sau khi tăng điểm khá mạnh, áp lực bán mạnh lên trên thị trường vào cuối chiều khiến các chỉ số thu hẹp đáng kể đà tăng. Đóng cửa phiên giao dịch, VN-Index tăng 5,35 điểm (+0,6%) lên 898,51 điểm; HNX-Index tăng 1,91 điểm (+1,94%) lên 100,43 điểm. Thanh khoản thị trường giảm mạnh so với các phiên trước đó, xuống mức thấp nhất 1 năm với giá trị giao dịch đạt 2.700 tỷ đồng. Khối ngoại bán ròng nhẹ, hơn 63 tỷ đồng, trong phiên hôm qua trên cả 2 sàn.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa biểu quyết thông qua việc tăng thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu tại phiên họp thứ 25 của Uỷ ban, ngày 12/7.

Tin quốc tế:

Chỉ số CPI của Mỹ tăng 0,1% theo tháng trong tháng 6, tăng 2,9% theo năm và là mức tăng mạnh nhất trong hơn 6 năm qua, Nguyên nhân do giá xăng dầu, bảo hiểm ô tô và giá thuê nhà tăng cao hơn. Loại trừ giá thực phẩm và năng lượng, chỉ số CPI lõi tiếp tục tăng tăng 0,2% theo tháng như kỳ vọng và 2,3% theo năm, vượt mức tăng 2,2% theo năm của tháng trước.

Mặc dù CPI không phải là thước đo lạm phát chính mà Fed sử dụng, nhưng chỉ số này phần nào phản ánh áp lực giá cả gia tăng nhanh, đặc biệt giữa bối cảnh chiến tranh thương mại leo thang, theo đó củng cố lộ trình nâng dần lãi suất của Cơ quan này. Ngoài ra, số lượng đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu giảm xuống mức thấp 2 tháng là 214.000 đơn trong tuần kết thúc 6/7, thấp hơn mức dự báo 226.000 đơn của thị trường.

Biên bản phiên họp ngày 14/6 của Ngân hàng Trung ương châu Âu ECB vừa được công bố cho thấy sự thống nhất của tất cả các thành viên về quan điểm điều hành chính sách tiền tệ một cách thận trọng, giữa bối cảnh còn nhiều rủi ro và bất ổn, đặc biệt phải kể đến chủ nghĩa bảo hộ thương mại, căng thẳng địa chính trị và những rủi ro mới trên thị trường tài chính khu vực.

Trong khi, chương trình kích thích tiền tệ khổng lồ QE kéo dài suốt 3 năm qua dự kiến sẽ chính thức kết thúc vào cuối năm nay, lãi suất cơ bản 0% vẫn sẽ được duy trì ít nhất cho tới mùa hè năm sau, hoặc lâu hơn nếu cần thiết để đảm bảo lạm phát đạt ngưỡng mục tiêu 2% một cách bền vững.

Sản lượng công nghiệp của Eurozone tăng 1,3% theo tháng trong tháng 5, sau khi giảm 0,8% theo tháng trong tháng 4, đồng thời vượt mức dự báo tăng 1,2% của các nhà phân tích. 

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.150 23.250 26.035 26.766 29.602 30.076 202,43 210,81
BIDV 23.150 23.250 26.004 26.376 29.602 30.084 207,35 211,01
VietinBank 23.139 23.249 26.031 26.786 29.574 30.134 207,42 213,92
Agribank 23.155 23.235 25.966 26.340 29.351 29.807 207,68 211,26
Eximbank 23.140 23.240 26.010 26.358 29.690 30.087 208,24 211,02
ACB 23.160 23.240 25.998 26.439 29.744 30.173 207,94 211,46
Sacombank 23.157 23.259 26.064 26.468 29.761 30.171 207,35 211,93
Techcombank 23.130 23.250 25.782 26.505 29.379 30.223 206,80 212,32
LienVietPostBank 23.140 23.240 25.886 26.450 29.664 30.201 207,43 211,97
DongA Bank 23.170 23.240 26.020 26.310 29.460 29.820 207,30 211,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.800
37.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.800
37.000
Vàng SJC 5c
36.800
37.020
Vàng nhẫn 9999
36.800
37.200
Vàng nữ trang 9999
36.550
37.150