08:38 | 12/09/2018

Diễn biến lạm phát của Trung Quốc đáng quan ngại

Tại Trung Quốc, việc mặt bằng giá cả hiện tại đang có dấu hiệu gia tăng là một trở ngại lớn đối với những nỗ lực của Chính phủ nâng đỡ xu hướng chậm lại của nền kinh tế và những ảnh hưởng bất lợi từ cuộc chiến tranh thương mại của Tổng thống Trump. 

Theo văn phòng thống kê của quốc gia, hiện tại giá cả tiêu dùng đã tăng 2,3% trong tháng 8 so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù cao hơn một chút so với kỳ vọng của các nhà kinh tế là 2,2%, nhưng con số trên đang đại diện cho xu hướng tăng dần dần 0,1% mỗi  tháng trong vòng 3 tháng vừa qua. 

Lạm phát kéo theo xu hướng gia tăng giá thuê nhà tại Trung Quốc

Mặc dù mức tăng hiện tại không quá mạnh nhưng các nhà kinh tế Trung Quốc đã chỉ ra các nhân tố tạm thời đang ảnh hưởng tới đà tăng của giá như lũ lụt, dịch cúm của lợn… là những yếu tố rất khó dự đoán.

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp, giá bán buôn thịt lợn – thức ăn chính của người Trung Quốc đã tăng 17% kể từ giữa tháng 7 sau khi dịch cúm lợn bùng phát và giá rau đã tăng 21% khi lũ lụt ảnh hưởng thiệt hại nặng nề đến vụ mùa. Hơn nữa chi phí nhà ở cũng đang gia tăng, đối với cả phân khúc nhà mới và nhà cho thuê. Giá cả nhà thuê đã tăng bình quân 17% trong tháng 7 so với đầu năm ở 50 tỉnh, thành phố lớn. Trước đây do hơn 90% các hộ gia đình Trung Quốc có nhà riêng nên giá cả thuê nhà không đắt đỏ, tuy nhiên gần đây do những người trẻ không có đủ năng lực tài chính để mua các căn hộ mới đã tác động mạnh đến xu hướng tăng của giá thuê nhà. Đồng thời Trung Quốc cũng đang bơm nhiều tiền hơn vào hệ thống tài chính để hỗ trợ cho tăng trưởng cũng đã làm gia tăng áp lực lạm phát.

Việc giá cả tăng cao hơn sẽ gây trở ngại cho chính quyền của ông Tập Cận Bình, đồng thời điều đó có nghĩa là những nhà lãnh đạo của Trung Quốc phải rất cẩn thận   trong việc tìm kiếm các giải pháp để thúc đẩy nền kinh tế đang chậm chạp. Cuộc chiến thương mại với nước Mỹ  cũng có thể dẫn đến việc giá cả tăng lên khi các chính sách thuế mới làm cho giá cả của hàng hóa nhập khẩu tăng lên.

Trước tình hình hiện tại, các chuyên gia kinh tế của Trung Quốc cho rằng chưa có nhiều tín hiệu cảnh báo, cụ thể theo ông Li Xuesong, Phó giám đốc Học Viện Chiến lược kinh tế quốc gia Bắc Kinh cho rằng, các ảnh hưởng của bệnh tật, thiên tai hiện tại chưa có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc, chưa phải là tín hiệu cho một ngã rẽ mang tính chất quyết định.

Theo Louis Kuijs  - chuyên gia về các vấn đề về Trung Quốc của Oxford Economics, chính sách thuế mới của nước Mỹ áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc đã góp phần tạo nên những tác động hỗn hợp, hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc vào thị trường Mỹ đã trở nên đắt đỏ hơn, sự suy giảm kinh tế của Trung Quốc là kết quả của việc giảm xuất khẩu sang Hoa Kỳ có thể sẽ ảnh hưởng đến sự dịch chuyển của lạm phát.

Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến cho rằng, diễn biến của giá cả hiện tại sẽ không dừng lại và bên cạnh những yếu tố là tạm thời thì những yếu tố mang tính dài hạn cũng đang có diễn biến không mấy tích cực. Theo đánh giá của Goldman Sachs, xu hướng tăng của thịt lợn và rau củ sẽ không xuất hiện cho đến cuối tháng 8, diễn biến tăng sẽ chỉ được thể hiện một phần trong dữ liệu của tháng 8 và sẽ tác động chi phối lạm phát thậm chí sẽ cao hơn trong tháng 9.

Trong khi đó, việc tăng giá của một số nhóm hàng hóa khác lại đang có khuynh hướng kéo dài hơn. Cụ thể giá dầu thế giới đã tăng mạnh kể từ năm ngoái và Trung Quốc là một trong những nước nhập khẩu dầu lớn nhất. Bên cạnh đó, việc đồng nhân dân tệ đang giảm giá mạnh so với đồng bạc xanh cũng sẽ làm cho giá dầu tăng cao hơn đối với người tiêu dùng Trung Quốc do việc nhập khẩu dầu được thanh toán bằng đồng đô la.

Chúng ta hãy nhớ rằng, trước đây một thập kỷ, lạm phát cũng đã trở thành vấn đề đáng quan ngại của Trung Quốc, khi Chính phủ đã chi cho đầu tư quá nhiều. Thực tế đó đã đẩy nền kinh tế vào trạng thái dư thừa năng suất, đặc biệt là trong khu vực công nghiệp, từ ngành khai thác than đến ngành thép sản xuất để phục vụ sản xuất đóng tàu.

Trung Quốc cũng đã dành đầu tư rất lớn vào giáo dục, vì vậy năng suất lao động cũng tăng nhanh chóng cùng với tiền lương. Mặc dù các số liệu lạm phát chính thức của Trung Quốc đã được chế ngự, nhưng những nhà đầu tư bên trong và bên ngoài không tin tưởng đối với họ.

Như vậy có thể nhận thấy, đối trọng lớn nhất đối với xu hướng tăng giá tại Trung Quốc đó là sức khỏe của nền kinh tế đang dần suy giảm, Brad Setser, chuyên gia kinh tế đối ngoại cho rằng, việc chính phủ tăng tốc cho chi tiêu đầu tư cơ sở hạ tầng, cắt giảm thuế và nới lỏng CSTT có thể vẫn tiếp tục diễn ra. Việc giá cả sẽ tăng rộng hơn ít có khả năng xảy ra trừ khi nền kinh tế yếu kém.

Đồng thời ông cũng cho rằng nếu giá cả tăng mạnh hơn, Chính phủ Trung Quốc có thể cần phải kiềm chế các chính quyền địa phương trong việc đầu tư hạ tầng cơ sở của địa phương để góp phần giảm áp lực lạm phát.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.504 26.349 27.824 28.270 214,53 224,49
BIDV 23.145 23.265 25.505 26.232 27.823 28.303 215,02 220,49
VietinBank 23.135 23.265 25.492 26.287 27.766 28.406 214,71 220,71
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.508 25.861 27.918 28.304 215,89 218,87
ACB 23.135 23.255 25.521 25.873 27.998 28.312 215,99 218,96
Sacombank 23.103 23.263 25.518 25.977 27.950 28.352 215,12 219,68
Techcombank 23.135 23.275 25.282 26.280 27.611 28.505 214,47 221,74
LienVietPostBank 23.140 23.260 25.469 26.943 27.981 28.405 216,19 220,21
DongA Bank 23.230 23.320 25.980 26.220 28.070 29.350 214,60 220,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.100
41.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.100
41.450
Vàng SJC 5c
41.100
41.470
Vàng nhẫn 9999
41.100
41.600
Vàng nữ trang 9999
40.650
41.450