14:55 | 12/01/2018

Diễn biến thị trường toàn cầu ngày 12/1/2018

Các thị trường chứng khoán châu Á sẽ kết thúc tuần với nhiều cảm xúc khác biệt khi mà cổ phiếu Nhật Bản sụt giảm, còn cổ phiếu ở Hồng Kông lại tăng kỷ lục. Sự biến động của thị trường trái phiếu Kho bạc Mỹ dịu lại, trong khi đồng EUR mở rộng đà tăng.

Chứng khoán tăng ở hầu hết các thị trường châu Á - Thái Bình Dương với khối lượng giao dịch trên mức trung bình ở Hồng Kông và Hàn Quốc; trong khi đồng yên mạnh vẫn đè nặng lên cổ phiếu Nhật Bản.

Đồng euro được hỗ trợ bởi các tín hiệu từ Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) khi nền kinh tế khu vực có thể đủ mạnh để đảm bảo việc thu lại các chính sách kích thích tiền tệ. Biên bản cuộc họp của ECB là một trong những thông tin mới nhất từ ​​các ngân hàng trung ương đã bắt đầu đánh thức thị trường tiền tệ từ tình trạng biến động yếu.

Trái phiếu Kho bạc Mỹ ổn định trở lại sau khi bị bán tháo được gây ra bởi nỗi lo về lạm phát yếu và khả năng Trung Quốc dừng mua nợ của Mỹ.

Bitcoin cũng ổn định sau 4 ngày giảm mạnh trong bối cảnh các nhà quản lý trên toàn thế giới ngày càng quan ngại đến sự thua lỗ của các nhà đầu tư cũng như sức khỏe của hệ thống.

Các nhà đầu tư cũng đang theo dõi sát báo cáo thu nhập của các Tập đoàn lớn với kỳ vọng kết quả kinh doanh của JPMorgan Chase & Co. và Wells Fargo & Co có thể làm tăng sự lạc quan trong việc mở rộng lợi nhuận của công ty Mỹ. Đà tăng mạnh của chứng khoán trong năm nay được xây dựng dựa trên nền tảng của năm 2017 với sự lạc quan về tăng trưởng toàn cầu, mặc dù điều đó đang làm xuất hiện một số câu hỏi về “quá giá”.

Những thông tin đáng chú ý còn lại của tuần này:

- Dữ liệu lạm phát của Mỹ được dự báo sẽ cho thấy áp lực về giá vẫn yếu ớt, điều đó khiến cho các quan chức Fed ít có cơ hội kêu gọi tăng lãi suất nhanh hơn.

- JPMorgan và BlackRock Inc. nằm trong số 4 công ty tài chính báo cáo kết quả kinh doanh vào thứ Sáu.

- Tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc có thể giảm xuống còn 10,8% trong tháng 12 từ mức 12,3% của tháng 11, các nhà kinh tế dự báo trước khi dữ liệu chính thức được công bố vào hôm thứ Sáu. Nhập khẩu dự kiến ​​sẽ tăng 15,1%, và thặng dư thương mại thu hẹp xuống còn 37 tỷ USD.

Một số diễn biến chính trên thị trường:

Cổ phiếu:

- Chỉ số Topix của Nhật đóng cửa giảm 0,6%; chỉ số Nikkei 225 giảm 0,2%.

- Hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 ít thay đổi sau khi chỉ số này tăng 0,7% vào ngày thứ Năm. Hợp đồng tương lai trên chỉ số FTSE 100 của Anh tăng 0,1%.

- Chỉ số Hang Seng của Hong Kong tăng 0,7%; các chỉ số chính ở Ấn Độ, Singapore, Malaysia và Đài Loan cũng tăng lên; trong khi chỉ số Kospi của Hàn Quốc không thay đổi.

- Chỉ số MSCI châu Á - Thái Bình Dương tăng 0,2%, nâng mức tăng từ đầu năm lên gần 4%.

Tiền tệ:

- Đồng euro tăng 0,1% lên 1,2046 USD sau khi tăng 0,7% vào ngày thứ Năm.

- Chỉ số Bloomberg Dollar Spot giảm 0,1%.

- Đồng bảng Anh tăng 0,1% lên 1,3550 USD.

- Đồng won Hàn Quốc tăng 0,8% lên 1.063,94 KRW/USD.

Trái phiếu:

- Lợi suất trái phiếu Kho bạc kỳ hạn 10 năm của Mỹ ổn định ở mức 2,54%, tăng khoảng 7 điểm cơ bản trong tuần.

- Lợi suất trái phiếu 10 năm của Úc tăng khoảng 1 điểm cơ bản, lên 2,75%.

Hàng hóa:

- Dầu thô WTI giảm 0,6% xuống còn 63,42 USD/thùng, trong khi dầu Brent giảm 0,2% xuống còn 69,10 USD sau khi tăng lên 70 USD.

- Giá vàng tăng 0,5% lên 1.329,29 USD/oz, hướng tới tuần tăng giá thứ 5 liên tiếp.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 22.890 26.292 26.606 30.763 30.239 203,92 209,28
BIDV 22.820 22.890 26.297 26.599 29.775 30.224 205,26 208,29
VietinBank 22.818 22.898 26.215 26.593 29.697 30.257 205,63 209,03
Agribank 22.810 22.885 26.372 26.692 29.993 30.414 205,18 208,37
Eximbank 22.810 22.900 26.274 26.616 29.869 30.258 206,08 208,76
ACB 22.830 22.900 26.287 26.616 29.959 30.258 206,09 208,67
Sacombank 22.930 22.913 26.322 26.682 29.945 30.304 206,45 209,50
Techcombank 22.790 22.890 26.027 26.729 29.531 30.350 204,51 209,84
LienVietPostBank 22.790 22.880 26.301 26.747 30.078 30.486 205,38 208,99
DongA Bank 22.830 22.900 26.310 26.600 30.880 30.240 204,80 208,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.720
36.900
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.720
36.900
Vàng SJC 5c
36.720
36.920
Vàng nhẫn 9999
35.850
36.250
Vàng nữ trang 9999
35.500
36.200